Tin tức sự kiện 29 Tháng Sáu 2012 10:50:00 SA

Tuyên dương 89 mô hình tiêu biểu

(Website Quận 2) -Ngày 29/6/2012, một số báo chí đã có bài phản ánh những sự kiện nổi bật của đất nước và những vấn đề liên quan như sau:

I- THÔNG TIN VỀ NHỮNG SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA ĐẤT NƯỚC

1. Báo VietNamPlus có bài Học giả quốc tế khẳng định 9 lô dầu khí nằm tại VN. Bài báo đưa tin: Tại cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông ngày 27/6 tại thủ đô Washington, Mỹ, một số học giả quốc tế đã khẳng định các lô dầu khí mà Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) mời thầu thăm dò - khai thác tại 9 lô trên Biển Đông nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
 
Hành động này của Trung Quốc đã được ông Carlyle Thayer, giáo sư của Học viện Quốc phòng Australia, nêu ra trong phiên thảo luận về các diễn biến gần đây trên Biển Đông. Ông khẳng định rằng các lô dầu khí do CNOOC mời thầu đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam.
 
Trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN sau đó, ông Thayer cho rằng Trung Quốc đã trả đũa việc Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biển bằng cách mời thầu thăm dò, khai thác tại các lô, "tất cả đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam." Ông cũng cho rằng đây là một hành động chính trị, nhiều hơn là một hành động có tính thương mại.
 
Cùng chung quan điểm, tiến sỹ Bonnie Glasser, chuyên gia về châu Á của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Mỹ, cảnh báo rằng bất cứ công ty dầu khí nước ngoài nào có ý định tham gia thầu với Trung Quốc tại các lô nằm trong vùng thềm lục địa của Việt Nam đều phải thấy mức độ rủi ro rất cao và phải "suy nghĩ hai lần" trước khi quyết định.
 
Trước đó, học giả Việt Nam, tiến sỹ Trần Trường Thủy, cũng đề cập đến diễn biến mới nhất này. Ông đưa ra bản đồ 9 lô trên Biển Đông mà Trung Quốc mời thầu, khẳng định các lô này đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và không phải là khu vực tranh chấp.
 
Nhận xét về Luật Biển mới được Quốc hội Việt Nam thông qua, giáo sư Thayer khẳng định đây là một "diễn biến rất tích cực" vì Việt Nam muốn và cần thiết phải khai thác biển của mình. Ông nói "đến năm 2025, một nửa GDP của Việt Nam là từ biển, vì vậy Việt Nam cần luật để điều chỉnh và xác định rõ ràng nhiệm vụ của các cấp, các ngành.
 
Cuộc hội thảo diễn ra trong hai ngày 27 và 28/6, do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tổ chức.
 
2. Trang web ICTnews có bài Cấp 1 mã số gốc duy nhất cho công dân. Bài báo phản ánh: Trong bối cảnh các Bộ, ngành đang nỗ lực tăng tốc trên hành trình tiến tới Chính phủ điện tử, nhiều dự án cung cấp dịch vụ cho công dân, doanh nghiệp có sử dụng mã số đã và đang được triển khai. Chẳng hạn, sau 15 năm thực hiện cấp mã số thuế, hiện Tổng cục Thuế đang quản lý 18 triệu mã số thuế. Theo “tiết lộ” của bà Trương Thị Hải Đường, Cục trưởng Cục Ứng dụng CNTT, Tổng cục Thuế thì hệ thống mã số thuế này là sản phẩm mua của nước ngoài có trữ lượng khoảng 1 tỷ mã số.
 
Không chịu “thua chị kém em”, ngành Bảo hiểm Xã hội cũng đang quản lý tới 56,5 triệu mã số, dự kiến tương lai tăng lên mức 90 triệu, và đang chuẩn bị triển khai một dự án cũng bắt buộc phải sinh ra mã số riêng cho ngành.
 
Tại Diễn đàn cấp cao về CNTT-TT Việt Nam năm 2012 (Vietnam ICT Summit) vừa diễn ra mới đây, TS. Trần Thất, Vụ trưởng Vụ Hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp chia sẻ: “Từ trước đến nay, hầu như các ngành vẫn độc lập làm mã số riêng, không thống nhất, không có khóa (key) thống nhất, như vậy thì sẽ tốn kém, mà không hiệu quả. Đã có hiện tượng cơ quan thuế phát hiện đối tượng khai thuế khai trùng số chứng minh thư nhân dân”.
 
Điều đáng nói là mỗi công dân phải sở hữu khá nhiều loại mã số khác nhau do nhiều cơ quan khác nhau cấp phát nhưng về cơ bản vẫn chỉ gồm các thông số như ngày tháng năm sinh, giới tính, tình trạng kết hôn,….
 
“Tình hình có vẻ rối loạn, ai cũng làm mã số cho công dân nhưng không biết kết nối thế nào”, ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Hiệp hội Phần mềm & Dịch vụ Việt Nam (VINASA) nhận định.
 
Theo TSKH. Thiếu tướng Nguyễn Quang Bắc, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng, việc cấp mã số riêng duy nhất cho mỗi công dân từ khi sinh đến khi mất đi đang là vấn đề bức xúc cần phải thực hiện càng sớm càng tốt. Mã số gốc này sẽ được gắn vào chứng minh thư và tương lai là gắn vào thẻ công dân điện tử.
 
Được biết Chính phủ đã giao Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ TT&TT và các Bộ, ngành, địa phương xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư, và thẻ công dân điện tử. Tuy nhiên, công việc mới đang chỉ ở giai đoạn khởi động, thí điểm.
 
Thiếu tướng Trần Văn Vệ, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cho biết: Từ 1/7/2012, người dân sẽ được cấp chứng minh thư mới, mã số chứng minh thư mới sẽ được coi là mã số công dân.
 
Khác với dự kiến trước đây, Bộ Công an xác định mã số công dân sẽ không chỉ cấp cho những người thuộc diện được cấp chứng minh thư (từ 14 tuổi trở lên) mà còn được cấp cho cả trẻ mới sinh thông qua sự phối hợp của hệ thống tư pháp thực hiện việc làm chứng nhận khai sinh ở phường xã. Như vậy, mỗi công dân đều sẽ có 1 mã số. Bộ Công an đã thỏa thuận với Bộ Tư pháp rằng Bộ Công an sẽ sinh mã số công dân để Bộ Tư pháp cấp phát cho công dân kể cả công dân vừa mới sinh. Việc khai báo các thông số thay đổi của công dân sau này sẽ được thực hiện tại xã phường và được cập nhật vào cơ sở dữ liệu hộ tịch (Luật Hộ tịch sẽ được ban hành trong thời gian tới nhưng theo dự thảo Luật được công bố gần đây nhất thì vẫn chưa thấy đề cập tới sổ hộ tịch điện tử - cũng có thể coi là thẻ công dân điện tử).
 
“Trước sau gì cũng phải có thẻ công dân có thể tích hợp các thông tin cá nhân từ khi sinh ra đến khi mất đi. Khi Bộ Công an đã cấp được mã số công dân và tiến tới là thẻ công dân điện tử thì các Bộ, ngành nên nghiên cứu ngay để sử dụng mã thẻ công dân đó trong việc triển khai xây dựng các cơ sở dữ liệu cho ngành mình hoặc triển khai các hệ thống ứng dụng CNTT chuyên ngành”, ông Bắc khuyến nghị.
 
Cũng theo ông Bắc, thống nhất mã số công dân duy nhất là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, liên quan tới nhiều Bộ, ngành, địa phương, bởi vậy, nên có sự chỉ đạo thống nhất từ Chính phủ và lãnh đạo cao nhất của Chính phủ cũng như lãnh đạo cao nhất của các Bộ, ngành, địa phương để thực hiện đồng bộ, hiệu quả.
 
Đồng quan điểm kể trên, ông Đỗ Văn Sinh – Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng cho rằng dứt khoát phải có sự thống nhất chỉ đạo từ Chính phủ thì mới thực hiện được, nếu không sẽ bùng nhùng, gây lãng phí.
 
3. Báo Thanh niên Online có bài Hơn 3.000 đơn “tố” cán bộ, đảng viên ở khu dân cư. Bài báo phản ánh: Qua 4 năm thí điểm triển khai thực hiện Quy chế “MTTQVN giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư”, 5 tỉnh, thành phố làm điểm đã nhận được 3.123 đơn giám sát và ý kiến phản ánh trực tiếp của nhân dân.
 
Ủy ban Trung ương MTTQVN vừa cho biết thông tin trên tại Hội nghị Đoàn Chủ tịch Mặt trận diễn ra sáng nay, 28.6.
 
Theo báo cáo, trong số hơn 3.000 đơn nhận được từ phản ánh, ý kiến của nhân dân, Quảng Bình nhận được 484 đơn thư và ý kiến phản ánh, kiến nghị; TP.Hà Nội nhận được 1.292 đơn thư và ý kiến, kiến nghị; Tiền Giang nhận được 616 đơn và ý kiến, kiến nghị; Ninh Bình nhận được 449 đơn thư, kiến nghị và TP.HCM nhận được 282 đơn và ý kiến.
 
Nội dung đơn thư phần lớn tập trung phản ánh, phát hiện những vi phạm về quản lý đất đai, liên quan đến đền bù, giải phóng mặt bằng, trong quản lý xây dựng, về môi trường; chính sách xã hội, vi phạm quy chế dân chủ ở cơ sở, biểu hiện tham nhũng. Số còn lại đề cập đến tư cách, phẩm chất đạo đức, thái độ của đảng viên, cán bộ, công chức của chính quyền cơ sở trong việc tiếp xúc giải quyết công việc của dân, vi phạm trách nhiệm công vụ và cải cách hành chính.
 
Đáng chú ý là báo cáo cho hay “trong số đơn thư giám sát của nhân dân gửi đến Mặt trận, số đơn không có chữ ký và địa chỉ của người gửi không rõ ràng khá nhiều”.
 
Theo đó, tỉnh Quảng Bình có tới 55 đơn không ký tên, TP.HCM trong tổng số 91 đơn gửi vào hộp thư giám sát có 24 đơn không ký tên, TP.Hà Nội trong tổng số hơn 1.000 vụ việc theo đơn, thư thì có 88 vụ nội dung không đúng sự thật…
 
Ban thường trực Ủy ban Trung ương MTTQVN cho biết, thông qua giải quyết kiến nghị của Ủy ban MTTQ cấp xã, các cơ quan chức năng đã kiểm tra và tiến hành xử lý trách nhiệm đối với sai phạm của cá nhân có liên quan, bước đầu rất kịp thời, xác đáng, được nhân dân đồng tình và tin tưởng.
 
Bên cạnh kết quả đạt được như trên, Ủy ban Trung ương MTTQVN cũng chỉ rõ những hạn chế, như có nơi, Ủy ban MTTQ cấp xã và tổ chức thành viên còn có thái độ nể nang, e ngại, chưa tin tưởng cao vào hiệu quả giám sát, thậm chí có nơi còn có tư tưởng ngại va chạm, sợ bị trù dập, trả thù, vì vậy có nơi sự việc vi phạm đã rõ ràng nhưng Ủy ban MTTQ cấp xã chưa mạnh dạn kiến nghị.
 
Tồn tại khác là tính đến thời điểm này, phần lớn số đơn thư, ý kiến phản ánh về các vụ việc cụ thể chủ yếu do nhân dân, do Ban công tác MT và Ban thanh tra nhân dân phát hiện, kiến nghị. Số do các tổ chức thành viên phát hiện và kiến nghị rất ít, nơi có tỷ lệ cao nhất là Hà Nội cũng chỉ đạt 10,5% số vụ việc.
 
Đáng nói hơn cả là dư luận nhân dân còn băn khoăn, lo ngại về hiệu quả và tính khả thi của việc thực hiện Quy chế, đặc biệt là việc giải quyết những kiến nghị giám sát do MT tập hợp qua đơn giám sát của nhân dân gửi đến chính quyền và cơ quan có thẩm quyền, nhất là những vụ vi phạm về quản lý đất đai.
 
Ngoài kiến nghị triển khai áp dụng trong phạm vi cả nước Quy chế này, Mặt trận cũng kiến nghị Ban Bí thư hoàn thiện cơ chế giám sát, trong đó có cơ chế bảo vệ người giám sát, phát hiện, tố giác những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng và sai phạm của cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư. Đồng thời, quy định rõ chế độ khen thưởng, động viên và nêu gương những người đã tích cực tham gia giám sát, phát hiện, tố giác đúng người, đúng việc.
 
II-NHỮNG THÔNG TIN TRỌNG TÂM: 
 
1. Báo Thanh niên đưa tin: Tuyên dương 89 mô hình tiêu biểu
 
Tối qua, tại Hà Nội, T.Ư Đoàn tổ chức lễ tuyên dương các mô hình tiêu biểu trong triển khai nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2007 - 2012. Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân; Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn anh Nguyễn Đắc Vinh tới dự.
 
Tại lễ tuyên dương, T.Ư Đoàn đã tặng bằng khen, tuyên dương 89 mô hình tiêu biểu. Chương trình Đồng hành với ngư dân trẻ ra khơi do Báo Thanh Niên triển khai tổ chức nằm trong số những mô hình tiêu biểu được T.Ư Đoàn tặng bằng khen.
Chúc mừng và biểu dương các mô hình tiêu biểu tại lễ tuyên dương, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh phong trào Năm xung kích, Bốn đồng hành được thanh niên tích cực tham gia, đã tạo ra nhiều mô hình tập thể, cá nhân thanh niên điển hình tiên tiến,  tiếp tục khắc họa lớp thanh niên thời kỳ mới; có lòng yêu nước nồng nàn, có trách nhiệm công dân; dám dấn thân tình nguyện vì cộng đồng, sẵn sàng đến nơi khó khăn gian khổ, đảm nhận việc mới việc khó... Theo Phó thủ tướng, từ việc tổng kết mô hình, cách làm sáng tạo tiêu biểu và các mô hình hiện có, Đoàn cần đi đầu triển khai thực hiện tốt việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi đây là nội dung trọng tâm xuyên suốt trong thiết kế, tổ chức các chương trình, hoạt động dành cho thanh niên.
 
Cùng ngày, T.Ư Đoàn tổ chức hội nghị tổng kết hai phong trào: Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp. Gần 5 năm triển khai 2 phong trào, các cấp bộ Đoàn đã đảm nhận, thực hiện 56.268 đề tài nghiên cứu khoa học, với tổng giá trị làm lợi hơn 2.000 tỉ đồng; xây dựng 1.516 làng, khu kinh tế thanh niên; 12.368 tổ hợp tác, hợp tác xã thanh niên và hơn 26.000 trang trại trẻ...
 
* Sáng nay 29.6, Hội nghị Ban Chấp hành T.Ư Đoàn lần thứ 13 khóa IX khai mạc tại Hà Nội. Hội nghị sẽ đánh giá, sơ kết công tác triển khai các nghị quyết của Ban Chấp hành đã ban hành và triển khai trong nhiệm kỳ 2007 - 2012; thảo luận, thông qua các đề án phục vụ cho công tác chuẩn bị tổ chức Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X; thảo luận, góp ý cho dự thảo báo cáo của Ban Chấp hành T.Ư Đoàn khóa IX trình tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X...
 
Báo cũng đưa tin: Giúp bạn làm lại cuộc đời
 
Nằm trong một ngõ nhỏ trên đường Lê Lợi, P.Gia Viên, Q.Ngô Quyền, TP.Hải Phòng, căn nhà rộng 400 m2 chính là nơi sinh hoạt hằng tháng của 91 hội viên câu lạc bộ Bạn giúp bạn. Tại đây, những người sau cai được các hội viên chia sẻ giúp đỡ để họ vượt qua cám dỗ của ma túy, làm lại cuộc đời.
 
Ông Phạm Ngọc Tân - Phó chủ nhiệm câu lạc bộ (CLB) cho biết CLB có mục đích cảm hóa những người nghiện ma túy để họ cai nghiện, tái hòa nhập cộng đồng. Một tháng CLB sinh hoạt 2 lần, để gặp mặt lắng nghe tâm tư của hội viên, giúp họ định hướng công việc, tham gia văn nghệ, thể thao…
 
Với những học viên sau cai nghiện ở Trung tâm lao động xã hội Hải Phòng, khi trở về chưa được gia đình, cộng đồng đón nhận ngay thì khi đến với CLB họ đều được các hội viên tạo điều kiện chỗ ở với điều kiện sinh hoạt khá đầy đủ. “Khi có thành viên mới gia nhập CLB, chúng tôi sẽ xem xét, tạo điều kiện cho họ một chỗ ở tại CLB, hằng ngày các hội viên sẽ được gia đình lo cho việc ăn uống. Các hội viên cũng sẽ chăm sóc, giúp đỡ nhau lúc ốm yếu”, ông Tân cho biết.
Từ những bước đầu thành công, năm 2010, các hội viên trong CLB đã tuyên truyền về HIV tại các tụ điểm nóng về ma túy, vận động người nghiện sử dụng kim tiêm sạch, phòng chống lây nhiễm HIV, từng bước đoạn tuyệt với ma túy.
 
“Trong một lần tôi đến nhà hội viên T. để cấp thuốc, vừa bước vào nhà, T. bất ngờ cầm con dao lao tới kề vào cổ tôi, đòi phải đưa thuốc ngay để anh ta chích hút. May mắn khi đó tôi từng trải, có chút kinh nghiệm nên sau một hồi thuyết phục, T.  bỏ dao và đồng ý uống thuốc cắt cơn” - anh Trần Sơn Hải, thành viên CLB chia sẻ.
 
Nhiều hội viên sau khi cắt nghiện thành công đã được các chủ nhiệm của CLB giới thiệu vào đơn vị, doanh nghiệp làm công nhân, bảo vệ, nhân viên bán hàng... đảm bảo một mức lương ổn định từ 2 - 3 triệu đồng/tháng.
 
 
Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi…(Hồ Chí Minh)
 
Đơn cử như trường hợp hội viên Nguyễn Hữu V. ở P.Dư Hàng Kênh, Q.Lê Chân. Năm 2009, sau khi cai nghiện tại Trung tâm LĐXH Hải Phòng trở về anh được gia đình gửi vào CLB. Thời gian đầu, anh vẫn chưa tin tưởng vào CLB, tư tưởng vẫn chán nản, và có những lúc lên cơn anh từng dùng dao lam rạch vào mặt đòi các hội viên phải tháo xích ở chân để cho anh về nhà. Tuy nhiên, sau khoảng một tháng, từ sự động viên, chia sẻ từ các hội viên cùng cảnh ngộ trong CLB, anh đã dần quên đi mặc cảm của bản thân và quyết tâm cai nghiện để làm lại cuộc đời.
 
Sau hơn 1 năm tham gia CLB, anh V. đã từ bỏ được con đường nghiện ngập. Khi trở về bên gia đình, anh được các hội viên CLB giúp ngày công, sửa chữa lại nhà cửa, mở đại lý phân phối nước đóng chai, tạo nguồn thu nhập ổn định khoảng 3 triệu đồng/tháng.
 
Còn đối với anh Nguyễn Hữu N. (Q.Ngô Quyền), 5 năm trước từng nổi danh là một dân chơi khét tiếng ở Hải Phòng. Gia nhập CLB từ năm 2008, chỉ sau một năm, các hội viên đã giúp anh cắt cơn nghiện thành công. Còn bây giờ, anh N. làm lại cuộc đời bằng công việc ít ai ngờ đến, làm Chủ nhiệm CLB Vòng tay bè bạn, tập hợp những người đồng cảnh, tổ chức các hoạt động tuyên truyền phòng chống HIV.
 
Chia sẻ với chúng tôi, chị Nguyễn Thu Trang - Bí thư Đoàn P.Gia Viên cho biết, sau 9 năm hoạt động, CLB đã góp phần tạo lên sự chuyển biến về nhận thức của cộng đồng dân cư với người nghiện. Gia đình tin tưởng giao con em mình nhờ CLB giúp cai nghiện, bản thân người nghiện khi tham gia cũng có nghị lực, quyết tâm đoạn tuyệt với ma túy, trở thành người có ích đóng góp cho cộng đồng, xã hội.
 
2. Báo Tuổi trẻ đưa tin: Trung Quốc mời thầu 9 lô dầu khí trên biển Việt Nam
 
Chiều 27-6, Tập đoàn Dầu khí quốc gia VN (PVN) đã họp báo về việc Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) ngày 23-6 công bố mời thầu quốc tế với chín lô dầu khí nằm sâu vào thềm lục địa của VN.
Ông Đỗ Văn Hậu, tổng giám đốc PVN, cho biết qua kiểm tra tọa độ, PVN nhận thấy chín lô mà phía Trung Quốc mời thầu quốc tế, tổng diện tích lên đến 160.129km2, nằm sâu vào thềm lục địa của VN, chồng lên các lô từ 128 đến 132 và từ 145 đến 156 mà PVN đã và đang tiến hành các hoạt động dầu khí cùng đối tác của mình.
 
Cụ thể, giới hạn phía tây của các lô mà Trung Quốc mời thầu cách khu vực bờ biển Quảng Ngãi chỉ 76 hải lý (hơn 140km), cách bờ biển phía bắc Nha Trang 60 hải lý (110km), điểm gần nhất cách Nha Trang và Phan Thiết có 57 hải lý (105km) và điểm gần nhất cách đảo Phú Quý hơn 30 hải lý (55km). “Các vùng này đã được PVN và các đối tác tiến hành hoạt động dầu khí từ lâu” - ông Hậu nói.
 
“PVN khẳng định CNOOC đã thông báo chào thầu quốc tế tại chín lô dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của VN và đây không phải là vùng có tranh chấp. Đây là việc làm sai trái, không có giá trị, trái với Công ước Liên Hiệp Quốc năm 1982 về Luật biển và đặc biệt không phù hợp với thông lệ quốc tế về hoạt động dầu khí. Hành động này đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia của VN, làm phức tạp thêm và gây căng thẳng tình hình trên biển Đông” - ông Hậu khẳng định quan điểm chính thức của PVN, đồng thời cho biết PVN yêu cầu CNOOC hủy bỏ ngay hoạt động mời thầu sai trái nói trên, nghiêm túc tuân thủ Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Luật biển 1982 và tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên về biển Đông (DOC).
 
Ông Hậu cho biết thực tế PVN và CNOOC đã ký và triển khai một số thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực dầu khí, trong đó hai bên đang thực hiện công tác thăm dò chung tại khu vực vùng cấu tạo bắc ngang vùng vịnh Bắc bộ, và PVN đã ký thỏa thuận hợp tác hai bên trong các hoạt động dầu khí giữa CNOOC và PVN. “PVN hoan nghênh CNOOC và các công ty dầu khí Trung Quốc tham gia hợp tác cùng PVN, đầu tư vào các hoạt động dầu khí trên thềm lục địa của VN như các công ty dầu khí khác, đương nhiên trên cơ sở tôn trọng luật pháp, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của VN” - ông Hậu nói. Ông cho biết PVN sẽ có thư chính thức gửi CNOOC để phản đối và yêu cầu hủy kế hoạch mời thầu này.
PVN tiếp tục triển khai các hoạt động dầu khí
 
Tại buổi họp báo, ông Đỗ Văn Hậu đã trả lời câu hỏi của nhiều cơ quan báo chí trong và ngoài nước.
 
* Việc CNOOC thông báo chào thầu quốc tế chín lô này có ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động của PVN với các đối tác?
 
- Chín lô này nằm trọn trong vùng đặc quyền kinh tế của VN, vì vậy PVN cùng các đối tác của mình sẽ không bị ảnh hưởng mà tiếp tục triển khai các hoạt động dầu khí phù hợp với các hợp đồng đã ký và luật pháp của VN. Chúng tôi sẽ tiếp tục triển khai các hoạt động dầu khí tại đây.
 
* PVN có những hợp đồng hợp tác với các đối tác nào trong khu vực mà CNOOC đang mời thầu?
 
- Có bốn hợp đồng dầu khí đang được triển khai giữa PVN và các đối tác. Thứ nhất là hợp đồng với Gazprom từ lô 129 đến 132, thứ hai là hợp đồng tại lô 128 với Công ty Dầu khí quốc gia của Ấn Độ, thứ ba là hợp đồng tại các lô 156-159 (mà phần phía bắc dính vào chín lô Trung Quốc đang mời thầu) với Exxon Mobil của Mỹ. Cuối cùng là lô 148-149 mà PVN đã ký hợp đồng với Tổng công ty Thăm dò khai thác dầu khí của VN. Hoạt động dầu khí tại các khu vực này đã được tiến hành từ nhiều năm nay và vẫn đang được tiếp tục.
 
* Các công ty nước ngoài hợp tác với PVN cần tuân thủ những điều kiện gì?
 
- Hiện có trên 60 tổ hợp các công ty quốc tế và quốc gia đã ký hợp đồng và hợp tác chặt chẽ với PVN. Để các công ty dầu khí nước ngoài hợp tác với PVN, ngoài kinh nghiệm và nguồn lực, điều kiện tiên quyết là tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của VN trên biển, phù hợp với luật pháp VN, luật pháp quốc tế và thông lệ dầu khí quốc tế.
 
* Trong những lô dầu khí VN hiện nay mà PVN đang hợp tác với công ty nước ngoài, mức độ triển khai dự án như thế nào? PVN có kế hoạch thực hiện biện pháp gì để làm yên lòng các nhà đầu tư này?
 
- Các hoạt động dầu khí tại khu vực này với bốn hợp đồng đã nói ở trên thì chúng tôi đã và đang triển khai nhiều hoạt động dầu khí bình thường, nhiều hoạt động từ khoan đến khảo sát địa chấn hai chiều, ba chiều... Một số lần, các công ty dầu khí nước ngoài nhận được một vài ý kiến từ phía Trung Quốc, ví dụ như Công ty Dầu khí quốc gia của Ấn Độ tại lô 128, nhưng tôi khẳng định rằng các nhà thầu dầu khí khi đã ký hợp đồng với PVN đều khẳng định rằng chúng ta hoàn toàn hợp pháp, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế nên các hoạt động sẽ tiến hành bình thường. Chúng tôi đã làm việc với các nhà thầu dầu khí để thống nhất chương trình công tác từ nay đến một vài năm tới.
 
* PVN dự kiến tổ chức hội thảo vào tháng 7 để mời nhà thầu Nhật Bản. Liệu PVN còn giữ kế hoạch đó?
 
- Không có kế hoạch nào trong các hoạt động của PVN bị ảnh hưởng bởi cái gọi là mời thầu này của Trung Quốc. Vì vậy mọi hội thảo, hội nghị... với các đối tác Nhật Bản và các đối tác khác vẫn diễn ra bình thường.
 
 3. Nghị Quyết : Về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3, Quốc Hội khóa XIII
 
QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA  VIỆT NAM
 
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa  Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
 
Căn cứ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội số 05/2003/QH11; Nghị quyết số 07/2002/QH11 ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội;
 
Trên cơ sở kết quả chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII;
 
QUYẾT NGHỊ:
 
I . Quốc hội nhận thấy nội dung chất vấn và trả lời chất vấn đã tập trung vào những vấn đề quan trọng được cử tri cả nước và đại biểu Quốc hội quan tâm; không khí phiên chất vấn là thẳng thắn, trách nhiệm, có tính tranh luận, đối thoại
 
với tinh thần xây dựng cao. Các đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, tập trung vào những vấn đề bức xúc được cử tri cả nước quan tâm. Phó Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ đã bám sát chất vấn của các đại biểu Quốc hội và kiến nghị của cử tri để trả lời, nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và nhận trách nhiệm liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền của mình.
 
Trên cơ sở báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 3, báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến kỳ họp thứ 2, kết quả chất vấn và trả lời chất vấn và ý kiến của các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp này, Quốc hội giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan, tổ chức hữu quan, các ngành, các cấp ở trung ương và địa phương trong quá trình triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội tập trung giải quyết các kiến nghị của cử tri cả nước và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 4.
 
II. Quốc hội ghi nhận một số giải pháp mà Phó Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ đã cam kết trước Quốc hội, bao gồm:
 
1. Trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường:
 
- Tập trung giải quyết những bất cập, hạn chế trong quản lý nhà nước về đất đai, trước hết là việc giao quyền sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, thu hồi đất; chính sách giá trong đền bù giải phóng mặt bằng; quy hoạch các khu công nghiệp, khu đô thị; tình trạng sử dụng đất lãng phí; bảo đảm đến 31-12-2013 căn bản hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu trong phạm vi cả nước. Tập trung xây dựng, trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Ðất đai (sửa đổi) tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII;
 
- Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Tổng Thanh tra Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp từ nay đến 31-12-2012 tập trung giải quyết những vụ việc khiếu kiện về đất đai trọng điểm, phức tạp, kéo dài, được dư luận xã hội quan tâm và công bố công khai kết quả giải quyết trên các phương tiện thông tin đại chúng; trước hết là các vụ việc về đền bù, giải phóng mặt bằng tại các khu công nghiệp, khu đô thị, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi;
 
- Có chương trình, kế hoạch, biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, khu công nghiệp, lưu vực sông..., tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất và đời sống của nhân dân.
 
2. Trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư:
 
- Huy động nguồn lực của cả nước, toàn dân, toàn quân, các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, phấn đấu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, hoàn thành mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu chủ yếu đã đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội;
 
- Từng bước hoàn thiện và tổ chức thực hiện có kết quả Ðề án tái cơ cấu đầu tư công; đẩy nhanh việc giải ngân gắn với quản lý chặt chẽ các nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ODA; xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về đầu tư vốn của Nhà nước vào các doanh nghiệp; xử lý đồng bộ các vấn đề về cơ chế chính sách, phân cấp quản lý, huy động nguồn lực, bảo đảm tăng cường chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn và giải quyết các bất cập, yếu kém trong đầu tư công; Hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, bảo đảm tăng tổng mức đầu tư vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn khác;
 
- Hoàn thiện thể chế và cơ chế pháp lý về quản lý các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, tập trung vào các vấn đề về đại diện chủ sở hữu; phân cấp và làm rõ trách nhiệm quản lý giữa các cơ quan quản lý tổng hợp với các bộ quản lý ngành, lĩnh vực và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; việc sử dụng vốn ngân sách nhà nước để đầu tư của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; cơ chế giám sát tài chính đối với tập đoàn, tổng công ty nhà nước (bao gồm cả giám sát từ bên ngoài và giám sát nội bộ); đặc biệt quan trọng là Quy định về nhiệm vụ, tổ chức, cán bộ của từng tập đoàn, tổng công ty nhà nước;
 
Tăng cường giám sát, kiểm tra, cơ cấu lại, xử lý các tồn tại ở các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; xác định lộ trình thoái vốn đầu tư ra ngoài ngành kinh doanh chính của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; bảo đảm để các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phát triển bền vững, góp phần quan trọng vào việc điều tiết thị trường, phát triển sản xuất - kinh doanh và hoạt động đạt hiệu quả kinh tế cao;
 
- Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về môi trường kinh doanh, bảo đảm công bằng, hợp lý, có ưu tiên cho vùng, miền, ngành, lĩnh vực cụ thể theo định hướng chính sách phát triển kinh tế của Ðảng và Nhà nước từng thời kỳ. Ðẩy nhanh cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước;
 
- Rà soát, tiến hành thận trọng, chú ý đến hiệu quả việc tiết giảm đầu tư công, cắt giảm danh mục đầu tư kém hiệu quả và không cần thiết; bảo đảm hài hòa các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, giảm lạm phát và an sinh xã hội.
 
3. Trong lĩnh vực công thương:
 
- Thực hiện các giải pháp đồng bộ thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh; thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thận trọng, linh hoạt; từng bước hạ lãi suất tín dụng, tăng tín dụng ở mức hợp lý; cơ cấu lại nợ và tập trung giải quyết nợ xấu; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn tín dụng, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, xử lý hàng tồn kho, kích thích tổng cầu của nền kinh tế;
 
- Có lộ trình thực hiện thị trường cạnh tranh, chống độc quyền, nhất là đối với các sản phẩm điện, xăng, dầu, than, vật tư cho sản xuất nông nghiệp, bảo đảm phát triển bền vững;
 
- Khẩn trương rà soát quy hoạch ngành điện và quy hoạch phát triển thủy điện; loại bỏ hoặc dừng các dự án không đạt các tiêu chí xã hội, môi trường, an toàn, chất lượng, hiệu quả. Tiếp tục kiểm tra, xử lý bảo đảm an toàn các công trình thủy điện. Rà soát, giải quyết dứt điểm, bổ sung các chính sách hỗ trợ cho nhân dân vùng tái định cư các công trình thủy điện, bảo đảm nâng cao đời sống, giảm nghèo bền vững;
 
- Có chính sách phát triển ổn định thị trường trong nước và ngoài nước, định hướng, vận động tiêu thụ sản phẩm nội địa. Ðấu tranh chống gian lận thương mại, nhất là trong tiêu thụ hàng hóa nông sản. Xây dựng thị trường hàng hóa phát triển hài hòa, bền vững.
 
4. Trong lĩnh vực bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm:
 
- Hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tội phạm; đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; tăng cường công tác phòng, chống tội phạm, nhất là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tham nhũng, ma túy, các loại tội phạm nguy hiểm khác, bảo đảm môi trường bình yên cho nhân dân, cho phát triển kinh tế - xã hội;
 
- Lực lượng công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp, các địa phương, các cơ quan, tổ chức hữu quan, tiếp tục củng cố thế trận an ninh nhân dân, phong trào toàn dân phòng, chống tội phạm, tạo chuyển biến tích cực trong việc phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn, tai nạn; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội;
 
- Xây dựng lực lượng công an nhân dân nói chung, các lực lượng công an chuyên ngành nói riêng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xứng đáng với lòng tin của Ðảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm cuộc sống bình yên của nhân dân.
 
III- Quốc hội giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục xem xét những nội dung được đại biểu Quốc hội chất vấn tại kỳ họp này và những chất vấn khác được gửi đến trong thời gian giữa hai kỳ họp để tổ chức chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tổ chức các phiên họp giải trình của các Bộ trưởng, Trưởng ngành về những vấn đề bức xúc nổi lên thuộc lĩnh vực Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách được cử tri kiến nghị và đại biểu Quốc hội chất vấn; các đại biểu Quốc hội dành thời gian tham dự các phiên chất vấn và giải trình, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, bảo đảm hoạt động của các cơ quan nhà nước gần dân hơn, công khai hơn, minh bạch hơn và để cử tri và nhân dân cả nước theo dõi, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.
 
Các thành viên Chính phủ đã trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 2 và kỳ họp này khẩn trương triển khai thực hiện các nội dung đã cam kết trước Quốc hội và có báo cáo kết quả gửi các vị đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 4.
 
IV- Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, Bộ trưởng Bộ Công thương, Bộ trưởng Bộ Công an, các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ liên quan; Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan, tổ chức hữu quan, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện Nghị quyết.
 
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Ðoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện nghị quyết.
 
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa  Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21-6-2012.
 
            Chủ tịch Quốc hội 
              (Ðã ký)
 
         NGUYỄN SINH HÙNG
 
4. Nghị Quyết: Về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc Hội
 
QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA  VIỆT NAM
 
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa  Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
 
Căn cứ Luật Tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 83/2007/QH11;
 
Trên cơ sở Tờ trình số 143/TTr-UBTVQH13 ngày 18 tháng 5 năm 2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Ðề án tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;
 
QUYẾT NGHỊ:
 
Ðiều 1. Triển khai thực hiện một số cải tiến, đổi mới trong các hoạt động sau đây của Quốc hội:
 
1. Hoạt động lập pháp;
 
2. Hoạt động giám sát;
 
3. Quyết định các vấn đề quan trọng;
 
4. Tổ chức kỳ họp Quốc hội;
 
5. Tổ chức phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
 
6. Hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội;
 
7. Công tác bảo đảm phục vụ hoạt động của Quốc hội.
 
Ðiều 2. Một số cải tiến, đổi mới trong hoạt động lập pháp
 
1. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoặc Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội tham gia thẩm tra và gửi ý kiến bằng văn bản đối với các đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh, các chính sách pháp luật dự kiến đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh toàn khóa và hằng năm của Quốc hội theo lĩnh vực được phân công phụ trách. Ủy ban Pháp luật chủ trì thẩm tra và giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật phải phản ánh đầy đủ ý kiến tham gia thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội. Không đưa vào dự kiến Chương trình các dự án không đủ điều kiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội giám sát việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách; hằng tháng có thông báo về tiến độ, chất lượng chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh đã được phân công chủ trì thẩm tra gửi Ủy ban Pháp luật để tổng hợp báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Khi đại biểu Quốc hội có đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh, Viện Nghiên cứu lập pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Ðoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tư vấn, hỗ trợ đại biểu Quốc hội trong việc lập, hoàn thiện hồ sơ theo quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội xem xét đưa vào Chương trình.
 
2. Cơ quan chủ trì thẩm tra và cơ quan trình dự án luật, dự thảo nghị quyết chủ động, tích cực phối hợp ngay từ khi bắt đầu và trong suốt quá trình xây dựng dự án; tổ chức các hoạt động với cơ quan trình dự án để trao đổi thông tin, thảo luận các vấn đề còn có ý kiến khác nhau; chủ động triển khai các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, tham vấn chuyên gia về dự án luật, dự thảo nghị quyết, bảo đảm tính khách quan, toàn diện, khoa học và tính phản biện độc lập của báo cáo thẩm tra.
 
Các cơ quan của Quốc hội tham gia thẩm tra dự án luật, dự thảo nghị quyết gửi ý kiến bằng văn bản đến cơ quan chủ trì thẩm tra để tổng hợp và thẩm tra.
 
Báo cáo thẩm tra ngoài việc trình bày các nội dung đã có sự thống nhất với cơ quan trình dự án luật, dự thảo nghị quyết , cần tập trung phân tích, trình bày rõ các vấn đề còn có ý kiến khác nhau, đề xuất quan điểm và phương án xử lý của cơ quan chủ trì thẩm tra trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội xem xét, quyết định.
 
3. Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách, Hội nghị trực tuyến với sự tham gia của các vị đại biểu Quốc hội, các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học. Tăng thời gian thảo luận về các dự án luật, dự thảo nghị quyết tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Ðoàn đại biểu Quốc hội. Việc tổ chức thảo luận, tập hợp, tổng hợp, tổ chức nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội đối với các dự án được tiến hành và có giá trị như xin ý kiến Quốc hội về dự án luật, dự thảo nghị quyết tại kỳ họp Quốc hội.
 
4. Tại kỳ họp Quốc hội, tổ chức thảo luận tổ đối với một số dự án luật, dự thảo nghị quyết trình lần đầu còn nhiều ý kiến khác nhau. Theo đề nghị của cơ quan chủ trì thẩm tra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến một số vấn đề quan trọng, ý kiến còn khác nhau đề nghị đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận. Các dự án luật, dự thảo nghị quyết trình thông qua được bố trí trình đầu kỳ họp để có thời gian tập hợp, tổng hợp ý kiến đại biểu Quốc hội và dự kiến tiếp thu, chỉnh lý.
 
Tại phiên họp toàn thể, Quốc hội tập trung thảo luận về những vấn đề quan trọng, ý kiến còn khác nhau của dự án luật, dự thảo nghị quyết; đại diện cơ quan trình báo cáo, giải trình làm rõ thêm những vấn đề liên quan đến dự án mà đại biểu Quốc hội nêu.
 
Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo cơ quan thẩm tra, cơ quan trình, Ðoàn thư ký kỳ họp dự kiến những nội dung cơ bản, những vấn đề quan trọng còn nhiều ý kiến khác nhau của dự án luật, dự thảo nghị quyết cần xin ý kiến đại biểu Quốc hội, làm cơ sở cho việc tiếp thu, chỉnh lý. Các ý kiến của đại biểu Quốc hội được tổng hợp, tiếp thu, giải trình và báo cáo đầy đủ với Quốc hội.
 
Ðiều 3. Một số cải tiến, đổi mới trong hoạt động giám sát
 
1. Tổ chức bỏ phiếu tín nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội xây dựng Quy chế quy định cụ thể đối tượng, quy trình, thủ tục bỏ phiếu tín nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm và việc xử lý kết quả trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ 4 (tháng 10-2012).
 
2. Quốc hội dành toàn bộ thời gian của phiên họp chất vấn tại hội trường để chất vấn trực tiếp. Trên cơ sở chất vấn của đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến lựa chọn một số nhóm vấn đề quan trọng, được cử tri, đại biểu Quốc hội quan tâm để chất vấn tại Hội trường. Ðại biểu Quốc hội đăng ký chất vấn theo nhóm vấn đề, tiến hành chất vấn từng nhóm vấn đề theo hướng đối thoại, tranh luận. Câu hỏi chất vấn ngắn gọn, rõ ý, không giải thích dài hoặc chỉ hỏi thông tin. Thời gian tối đa cho một lần hỏi không quá hai phút. Người trả lời chất vấn phải trả lời ngắn gọn, trực tiếp, cụ thể vào nội dung của câu hỏi; thời gian trả lời theo yêu cầu của chủ tọa. Căn cứ vào kết quả chất vấn và trả lời chất vấn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét và khi cần thiết trình Quốc hội ban hành Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn. Nghị quyết nêu rõ kết quả phiên chất vấn, yêu cầu đặt ra đối với người trả lời chất vấn; trách nhiệm của người trả lời chất vấn và cơ quan, tổ chức hữu quan; các đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật; trách nhiệm của người trả lời chất vấn thực hiện lời hứa trước Quốc hội và việc giám sát thực hiện.
 
Hằng năm, tổ chức ít nhất hai lần chất vấn tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội về những vấn đề được Quốc hội giao, do đại biểu Quốc hội chất vấn hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội lựa chọn; tăng cường hoạt động giải trình tại Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội về những vấn đề thuộc lĩnh vực Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách. Ðại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở trung ương và đại biểu Quốc hội quan tâm đăng ký tham dự phiên họp chất vấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phiên họp giải trình của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Tùy theo nội dung có thể thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về hoạt động chất vấn, giải trình; tổ chức phát thanh, truyền hình trực tiếp và truyền hình trực tuyến để các đại biểu Quốc hội tham gia và nhân dân theo dõi, giám sát. Giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội xây dựng quy chế quy định cụ thể quy trình, thủ tục tổ chức chất vấn tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tổ chức giải trình tại Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội.
 
3. Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội được thông qua tại kỳ họp thứ nhất của năm trước để có thời gian, điều kiện cho các đại biểu Quốc hội, các Ðoàn đại biểu Quốc hội, Ðoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ðoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội triển khai việc thực hiện tại địa bàn, đơn vị liên quan.
 
4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tại địa phương, bảo đảm trong cùng một thời điểm chỉ có một đoàn giám sát của cơ quan của Quốc hội tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ðoàn giám sát phải gửi chương trình, kế hoạch làm việc đúng thời gian quy định, xác định cụ thể nội dung làm việc; thành phần đoàn phải thiết thực, gọn nhẹ.
 
Ðiều 4. Một số cải tiến, đổi mới trong việc quyết định các vấn đề quan trọng
 
1. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoặc Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội tham gia thẩm tra và có ý kiến bằng văn bản về dự toán ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm của bộ, ngành thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách; Ủy ban Tài chính, Ngân sách chủ trì thẩm tra toàn bộ dự toán ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương hằng năm. Nội dung báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính, Ngân sách phải phản ánh ý kiến tham gia thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội. Chính phủ phải bảo đảm để đại biểu Quốc hội có đầy đủ thông tin cần thiết khi tham gia quyết định ngân sách nhà nước.
 
2. Khi cần thiết, áp dụng quy trình xem xét tại hai kỳ họp Quốc hội đối với dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội xem xét, quyết định. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoặc Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội thẩm tra và có ý kiến bằng văn bản đối với dự án, công trình thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách. Cơ quan chủ trì thẩm tra chủ động nghiên cứu, thu thập thông tin, tư liệu liên quan đến dự án, công trình; phối hợp với cơ quan trình ngay từ đầu quá trình chuẩn bị để trao đổi, xử lý các vấn đề thuộc nội dung của dự án, công trình; tổ chức hội nghị chuyên gia, thu hút các nhà khoa học, cơ quan chuyên môn độc lập thẩm định các vấn đề khoa học - công nghệ; tổ chức lấy ý kiến các đối tượng chịu sự tác động của dự án, công trình.
 
Ðiều 5. Một số cải tiến, đổi mới trong việc tổ chức kỳ họp Quốc hội
 
1. Sau mỗi kỳ họp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến chương trình kỳ họp tiếp theo gửi các cơ quan, tổ chức hữu quan cho ý kiến hoàn thiện về các nội dung có liên quan. Chỉ đưa vào chương trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến hoặc quyết định những vấn đề đã được chuẩn bị chu đáo về nội dung, trình đúng thời hạn, thẩm quyền, quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật.
 
2. Trong thời gian giữa 2 kỳ họp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội chuyên trách, các Ðoàn đại biểu Quốc hội tăng thời gian thảo luận, nghiên cứu, góp ý kiến vào các nội dung chuẩn bị trình Quốc hội bằng nhiều hình thức khác nhau. Ý kiến phát biểu của đại biểu Quốc hội tại tổ, hội trường và bằng văn bản có giá trị như nhau.
 
3. Các đại biểu Quốc hội dành thời gian nghiên cứu kỹ nội dung dự án, đề án, báo cáo trước khi dự họp. Ngoài dự án, báo cáo, đề án và báo cáo thẩm tra đầy đủ, cơ quan trình và cơ quan thẩm tra chuẩn bị báo cáo tóm tắt để trình bày; rút ngắn thời gian trình bày tại hội trường xuống còn khoảng 10 đến 15 phút, thời gian trình bày cụ thể đối với báo cáo của Chính phủ và báo cáo thẩm tra về kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định.  Văn bản của cơ quan, tổ chức trình phải nêu rõ nội dung cần báo cáo, những vấn đề quan trọng, ý kiến còn khác nhau cần xin ý kiến Quốc hội. Báo cáo thẩm tra tập trung phân tích, phản biện và đưa ra kiến nghị thể hiện rõ chính kiến của cơ quan thẩm tra về các chính sách được đề xuất trong dự án, đề án, báo cáo; nêu rõ những vấn đề tán thành, những vấn đề bổ sung, hoàn chỉnh và lý do cụ thể; đồng thời, nêu rõ những vấn đề quan trọng, còn ý kiến khác nhau và đề xuất phương án xử lý.
 
Bố trí thời gian thảo luận tại Hội trường phù hợp với nội dung và phạm vi của từng dự án, đề án, báo cáo; tăng cường đối thoại, tranh luận về các vấn đề quan trọng còn nhiều ý kiến khác nhau. Thời gian phát biểu của đại biểu Quốc hội tại hội trường lần đầu không quá bảy phút, lần sau không quá ba phút.
 
4. Ðối với các dự án, đề án, báo cáo trình Quốc hội mà có nội dung cần ban hành nghị quyết thì cơ quan, tổ chức trình phải trình dự thảo nghị quyết cùng với dự án, đề án, báo cáo; cơ quan thẩm tra chủ trì việc tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, hoàn thiện dự thảo nghị quyết trình Quốc hội. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội được giao tổ chức giám sát chuyên đề chủ trì chuẩn bị dự thảo nghị quyết giám sát chuyên đề. Ðoàn thư ký kỳ họp chủ trì chuẩn bị dự thảo nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn. Cơ quan chủ trì xây dựng dự thảo nghị quyết chủ động tổ chức ban soạn thảo hoặc tổ biên tập để chuẩn bị dự thảo nghị quyết. Dự thảo Nghị quyết phải được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến trước khi trình Quốc hội xem xét, quyết định.
 
5. Khi cần thiết, Chủ tịch Quốc hội tổ chức họp với các Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội để thảo luận, chỉ đạo điều hành những nội dung quan trọng, bảo đảm thành công của kỳ họp Quốc hội.
 
Ðiều 6. Một số cải tiến, đổi mới trong việc tổ chức phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội
 
1. Thời gian bắt đầu phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào khoảng từ ngày 10 đến ngày 15 hằng tháng, trừ trường hợp đặc biệt theo quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
 
2. Các cơ quan trình dự án luật, dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo phải nghiêm túc thực hiện quy định về việc gửi tài liệu; không đưa vào chương trình kỳ họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội các dự án luật, dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo không thực hiện đúng quy định về thời gian gửi tài liệu; đồng thời, yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trình dự án luật, dự thảo nghị quyết, đề án, báo cáo đó.
 
3. Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án luật, dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án được thông báo đến các cơ quan, tổ chức hữu quan để nghiên cứu tiếp thu hoặc triển khai thực hiện; đối với các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ban hành nghị quyết.
 
4. Ðối với nội dung Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến, tập trung thảo luận các vấn đề về quan điểm, chủ trương, chính sách lớn hoặc còn nhiều ý kiến khác nhau được cơ quan trình, Ủy ban thẩm tra đề nghị; tiến độ, điều kiện trình dự án. Ðối với nội dung Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo thẩm quyền thì dành thời gian để thảo luận, hoàn chỉnh dự thảo nghị quyết.
 
5. Khi cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách để thảo luận, cho ý kiến về dự án, đề án, báo cáo.
 
Ðiều 7. Một số cải tiến, đổi mới hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội
 
1. Bảo đảm các điều kiện để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri ở nơi ứng cử, nơi cư trú, nơi làm việc; tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng, địa bàn mà đại biểu Quốc hội quan tâm. Ðại biểu Quốc hội dành thời gian gặp, nắm bắt, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; gắn nội dung tiếp xúc cử tri với việc chuẩn bị kỳ họp Quốc hội, hoạt động của các cơ quan của Quốc hội.
 
Căn cứ vào thực tế của từng địa phương, Ðoàn đại biểu Quốc hội chủ động phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương các cấp tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội có hình thức tiếp xúc cử tri phù hợp.
 
2. Nội dung, chương trình, lịch tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội được thông báo công khai; tạo điều kiện thuận lợi để cử tri có thể tham dự các cuộc tiếp xúc; bảo đảm để đại biểu Quốc hội có điều kiện trực tiếp gặp gỡ với cử tri; tạo không khí cởi mở, dân chủ, trao đổi thẳng thắn giữa cử tri với đại biểu và dành thời gian thích đáng để cử tri nêu ý kiến, kiến nghị.
 
Tăng cường tiếp xúc trực tiếp; phân định trách nhiệm giải quyết kiến nghị của từng cấp, từng cơ quan, tổ chức; tiếp nhận, xử lý các kiến nghị hoặc kịp thời chuyển các kiến nghị đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết; thông báo công khai, kịp thời kết quả tiếp xúc cử tri trên các phương tiện thông tin đại chúng tại địa phương. Có kế hoạch theo dõi, giám sát việc giải quyết kiến nghị và thông báo kết quả giải quyết đến cử tri, bảo đảm để mọi kiến nghị của cử tri đều được trả lời công khai, đúng thời hạn.
 
Ðiều 8. Một số cải tiến, đổi mới công tác bảo đảm
 
1. Tạo điều kiện thuận lợi để báo chí tiếp cận, đưa tin về hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, các Ðoàn đại biểu Quốc hội và bảo đảm việc đưa tin chính xác, khách quan theo quy định của pháp luật về báo chí. Tăng thời lượng các chương trình phát thanh và truyền hình về Quốc hội trên các kênh truyền hình phủ sóng toàn quốc; xây dựng Kênh truyền hình Quốc hội phù hợp với điều kiện của nước ta.
 
2. Cung cấp đầy đủ thông tin về việc chuẩn bị các dự án, đề án, báo cáo trình Quốc hội cho đại biểu Quốc hội; tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm thông qua truyền hình trực tuyến từ trụ sở Quốc hội đến các khu vực và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tổ chức Thư viện Quốc hội, cổng thông tin điện tử Quốc hội; chuẩn bị điều kiện, cơ sở vật chất - kỹ thuật nâng cao chất lượng Quốc hội điện tử.
 
3. Sửa đổi, bổ sung một số chế độ chi tiêu tài chính phục vụ hoạt động của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; ban hành chế độ thuê chuyên gia, cung cấp thông tin phục vụ hoạt động của đại biểu Quốc hội, bảng lương, chế độ phụ cấp cho đại biểu Quốc hội chuyên trách, một số chế độ, chính sách đặc thù phục vụ hoạt động của đại biểu Quốc hội và chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Ðoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
 
4. Kiện toàn bộ máy cơ quan tham mưu, giúp việc theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả; phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng; có sự liên thông, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, bảo đảm không chồng chéo và phân tán nguồn lực. Tổng kết hoạt động của Văn phòng Ðoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, xây dựng cơ chế hoạt động hiệu quả, bảo đảm liên thông, gắn kết với Văn phòng Quốc hội trong việc phục vụ hoạt động của đại biểu Quốc hội tại Ðoàn đại biểu Quốc hội.
 
Ðiều 9. Ðiều khoản thi hành
 
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, các Ðoàn đại biểu Quốc hội; Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức hữu quan theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết này.
 
2. Giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
 
a) Hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung các văn bản sau đây trước ngày 31 tháng 12 năm 2012:
 
- Nghị quyết số 228/NQ-UBTVQH10 ngày 15/11/1999 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc đại biểu Quốc hội tiếp công dân và xử lý đơn thư kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân;
 
- Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 01/10/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội;
 
- Nghị quyết liên tịch số 06/2004/ NQLT/UBTVQH11-ÐCTUBTWMTTQVN ngày 10/9/2004 giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI và Ðoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn về việc đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri;
 
- Nghị quyết số 545/2007/ UBTVQH12 ngày 11/12/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập và quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của Văn phòng Ðoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
 
- Nghị quyết số 773/2009/ UBTVQH12 ngày 31/3/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định một số chế độ chi tiêu tài chính phục vụ hoạt động của Quốc hội.
 
b) Ban hành bảng lương, chế độ phụ cấp cho đại biểu Quốc hội chuyên trách, một số chế độ chính sách đặc thù phục vụ hoạt động của đại biểu Quốc hội và một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Ðoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân trước ngày 31 tháng 12 năm 2012;
 
c) Ban hành Quy chế quy định cụ thể về quy trình, thủ tục tổ chức chất vấn tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội; quy trình, thủ tục tổ chức giải trình tại phiên họp Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trước ngày 31-12-2012;
 
d) Xây dựng Quy chế về việc bỏ phiếu tín nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII.
 
3. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2012.
 
Nghị quyết số 271/NQ-UBTVQH13 ngày 1-11-2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội hết hiệu lực kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực.
 
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21-6-2012.
 
Chủ tịch Quốc hội
(Ðã ký)
 
NGUYỄN SINH HÙNG
 
 
III NHỮNG THÔNG KHÁC:
 
1. Báo điện tử Chính phủ có bài Phân công chuẩn bị 2 phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bài báo phản ánh: Để chuẩn bị cho phiên họp thứ 9 và thứ 10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã phân công các thành viên Chính phủ chuẩn bị một số tờ trình, báo cáo, dự án luật.
 
Chuẩn bị cho phiên họp thứ 9 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến diễn ra từ ngày 16-18/7/2012, Thủ tướng Chính phủ phân công Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chuẩn bị Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư.
 
Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp chuẩn bị Dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.
 
Tờ trình của Chính phủ về việc xin chủ trương thành lập thành phố Bà Rịa thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường do Bộ trưởng Bộ Nội vụ chuẩn bị, trình.
 
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chuẩn bị, trình Tờ trình của Chính phủ về việc ban hành Nghị định quy định về tổ chức các ngày kỷ niệm; nghi thức trao tặng, đón nhận danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng; nghi lễ đối ngoại và đón tiếp khách nước ngoài; Tờ trình của Chính phủ về việc ban hành Nghị định quy định tổ chức lễ Quốc tang trong trường hợp thiên tai, thảm họa đặc biệt nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn đến tính mạng của nhân dân.
 
Để chuẩn bị cho phiên họp thứ 10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến diễn ra từ ngày 13 - 22/8/2012, Thủ tướng Chính phủ phân công Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp chuẩn bị Dự án Luật Hợp tác xã (sửa đổi).
 
Bộ trưởng Bộ Tài chính phối hợp chuẩn bị Dự án Luật Dự trữ quốc gia; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế.
 
Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Công Thương phối hợp chuẩn bị Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực.
 
Dự án Luật Hộ tịch do Bộ trưởng Bộ Tư pháp chuẩn bị, trình.
 
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chuẩn bị, trình Dự án Luật phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai.
 
Bộ trưởng Bộ Công an chuẩn bị, trình Dự án Luật Phòng, chống khủng bố. Bộ trưởng Bộ Tài chính chuẩn bị trình Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân.
 
Dự án Luật giáo dục quốc phòng, an ninh; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chuẩn bị, trình.
 
Dự án Luật Thủ đô do Bộ trưởng Bộ Tư pháp chuẩn bị, trình.
 
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan chuẩn bị, trình Báo cáo của Chính phủ về thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường.
 
2. Mục Ý kiến ngắn, báo Nhân dân điện tử đưa tin: Từ tháng 3-2012 đến nay, do thiếu cán bộ tư pháp, mọi hoạt động tư pháp tại xã Quảng Thành (Gia Nghĩa, Ðác Nông) như: chứng thực; cấp giấy khai sinh; đăng ký hộ tịch; tuyên truyền, giáo dục pháp luật, công tác hòa giải tại cơ sở... bị ngưng trệ, gây khó khăn cho người dân khi có việc cần giải quyết. Ðề nghị các cấp chính quyền của xã Quảng Thành và thị xã Gia Nghĩa sớm có biện pháp khắc phục tình trạng nói trên.
 

Số lượt người xem: 2157    

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày

  • Thành phố Hồ Chí Minh
  • KT-XH 9 thang 2014
  • Tuyên truyền tiết kiệm điện P.2
  • Tuyên truyền tiết kiệm điện P.1
  • Gương học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
  • Quận 2: Chuyển biến trong công tác giải quyết đơn thu khiếu nại của người dân
  • Đảng bộ Quận 2 với chương trình "Vì dân phục vụ"
  • Bước chuyển mới trong việc xây dựng Chính quyền điện tử
  • Chuyện về vùng đất mới quận 2
  • Khai mạc hội xuân chợ hoa tết Quý Tỵ 2013
  • Hội xuân Quý Tỵ 2013-Quận đoàn
  • Hội thi nấu bánh tét xuân Quý Tỵ 2013
  • Bắn pháo hoa dịp tết Quý Tỵ 2013
  • KỶ NIỆM 15 NĂM THÀNH LẬP QUẬN 2 - P.2
  • KỶ NIỆM 15 NĂM THÀNH LẬP QUẬN 2 - P.1
Tìm kiếm