Tin tức sự kiện 03 Tháng Giêng 2016 2:55:00 CH

Kết quả Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020

 Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã diễn ra từ ngày 13 tháng 10 năm 2015 đến ngày 17 tháng 10 năm 2015. Ngày 13 tháng 10 năm 2015, Đại hội họp phiên trù bị để thông qua chương trình, quy chế làm việc của Đại hội; bầu Đoàn Chủ tịch, Ban Thẩm tra tư cách đại biểu và Đoàn Thư ký; Đại hội nghe trình bày báo cáo tổng hợp ý kiến của Đảng bộ Thành phố góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng. Toàn bộ nội dung chính của Đại hội được tiến hành từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 10 năm 2015.

Tham dự Đại hội có 445 đại biểu, thuộc 67 đảng bộ trực thuộc Thành ủy, trong đó, số đại biểu đương nhiên là 65 đại biểu, số đại biểu được bầu tại các đảng bộ trực thuộc là 380 đại biểu, cụ thể như sau:

- Về tuổi Đảng: Đại biểu nhiều tuổi Đảng nhất: 47 tuổi Đảng là đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy nhiệm kỳ 2010 - 2015, thuộc Đảng bộ Khối Dân - Chính - Đảng Thành phố; đại biểu ít tuổi Đảng nhất: 03 tuổi Đảng là đồng chí Nguyễn Ngọc Lân, Phó bí thư Đảng ủy, Phó tổng Giám đốc Tổng Công ty may Nhà Bè - Công ty Cổ phần, thuộc Đảng bộ Khối Doanh Nghiệp Công nghiệp Trung ương tại thành phố Hồ Chí Minh.

- Về độ tuổi: Dưới 30 tuổi: 01 đại biểu (0,2%); từ 30 đến 40 tuổi: 52 đại biểu (11,7%); 41 đến 50 tuổi: 152 đại biểu (34,2%); từ 51 đến 60 tuổi: 235 đại biểu (52,8%); từ 61 - 70 tuổi: 04 đại biểu (0,9%); trên 70 tuổi: 01 đại biểu (0,2%). Trong đó, đại biểu cao tuổi nhất: 71 tuổi là đồng chí Trần Long Ẩn, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các hội Văn học, nghệ thuật Thành phố, thuộc Đảng bộ Khối Dân - Chính - Đảng Thành phố; đại biểu ít tuổi nhất: 21 tuổi là đồng chí Lê Hoàng Mai Thảo, sinh viên trường Đại học Kinh tế - Luật, thuộc Đảng bộ Đại học Quốc gia Thành phố.

- Trình độ học vấn: Trình độ giáo dục phổ thông 10/10: 35 đại biểu (7,9%); trình độ 12/12: 410 đại biểu (92,1%).

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Tiến sĩ: 36 đại biểu (8,1%); thạc sĩ : 151 đại biểu (34%); đại học: 257 đại biểu (57,7%); đang học đại học: 01 đại biểu (0,2%).

- Trình độ lý luận chính trị: Cử nhân, cao cấp: 423 đại biểu (95,1%); trung cấp: 10 đại biểu (2,3%); sơ cấp: 04 đại biểu (0,9%); đang học cử nhân, cao cấp: 06 đại biểu (1,3%); đang học trung cấp: 02 đại biểu (0,4%).

- Học hàm: Giáo sư: 04 đồng chí (0,9%); Phó Giáo sư: 11 đồng chí (2,5%).

- Chức vụ, nghề nghiệp: Đại biểu là lãnh đạo chủ chốt của Thành ủy, lãnh đạo các cơ quan tham mưu, các đơn vị sự nghiệp của Thành ủy: 25 đại biểu (5,6%); đại biểu là lãnh đạo chủ chốt của Hội đồng nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân Thành phố, các sở, ban ngành, đơn vị sự nghiệp thuộc các cơ quan nhà nước Thành phố: 70 đại biểu (15,7%); đại biểu là lãnh đạo chủ chốt của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp cấp Thành phố: 11 đại biểu (2,5%); đại biểu là lãnh đạo Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội, nghề nghiệp cấp quận, huyện và tương đương: 232 (52,2%); đại biểu là cán bộ trong lực lượng vũ trang nhân dân: 41 đại biểu (9,2%); đại biểu là chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên hội đồng quản trị, hội đồng thành viên, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc các doanh nghiệp: 47 đại biểu (10,6%); đại biểu là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giám đốc, phó giám đốc các cơ sở giáo dục đào tạo: 18 đại biểu (04%); đại biểu là sinh viên: 01 đại biểu (0,2%). Đại biểu nữ: 85 đại biểu (19,1%). Đại biểu là dân tộc Hoa: 03 đại biểu (0,7%).

Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến dự và có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng và sâu sắc; cùng nhiều đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Mặt trận - đoàn thể chính trị - xã hội Trung ương, các đồng chí lãnh đạo các bộ, ngành, các đồng chí cán bộ cách mạng lão thành, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động và các khách quý đã đến dự Đại hội.

Qua hơn 03 ngày làm việc nghiêm túc, phát huy cao độ trí tuệ, tinh thần dân chủ, đoàn kết và đổi mới, Đại hội đã thành công tốt đẹp với kết quả như sau:

I. Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X có ý nghĩa rất quan trọng:

Trong bối cảnh cả nước đang hướng về Đại hội XII của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; vượt qua những khó khăn do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; Chủ đề của Đại hội cũng là tiêu đề của báo cáo chính trị: “Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; huy động mọi nguồn lực; xây dựng thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại, nghĩa tình; giữ vững vai trò đầu tàu về kinh tế - xã hội; sớm trở thành một trong những trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học - công nghệ của khu vực Đông Nam Á”.

Đại hội có nhiệm vụ:

- Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ Thành phố, nhiệm kỳ 2010 - 2015; kiểm điểm sự chỉ đạo, lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa IX và xác định mục tiêu, nhiệm vụ phát triển Thành phố, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị Thành phố giai đoạn 2015 - 2020;

- Thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng;

- Bầu cử Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2015 - 2020;

- Bầu Đoàn đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Đại hội X Đảng bộ Thành phố là Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới, đề cao tinh thần trách nhiệm trước Nhân dân và phát huy tính cách mạng, năng động, sáng tạo của Thành phố.

- Tiến tới Đại hội lần thứ XII của Đảng, Thành phố đã tổng hợp ý kiến từ đại hội của 2.346 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc và ý kiến góp ý từ đại hội của 67/67 đảng bộ quận, huyện, cấp trên cơ sở; ý kiến góp ý của cán bộ lãnh đạo nghỉ hưu, Mặt trận Tổ quốc, nhân sĩ, trí thức, các vị chức sắc tôn giáo, đại biểu đồng bào các dân tộc, ban thường vụ các tổ chức chính trị - xã hội, đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố, đã tiếp nhận 14.300 ý kiến góp ý. Phần lớn ý kiến thể hiện sự nhất trí cao với nội dung dự thảo văn kiện trình Đại hội XII của Đảng; hầu hết ý kiến đóng góp thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, tâm huyết, xây dựng và mong muốn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng sẽ đánh giá sát, đúng những thành tựu, hạn chế, yếu kém, nguyên nhân, kinh nghiệm để làm cơ sở quyết định đúng đắn phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước nhanh và bền vững.

- Quá trình tiến tới Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X là một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng của toàn Đảng bộ và Nhân dân Thành phố. Sau hơn 4 tháng tổ chức thảo luận góp ý kiến cho dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố tại đại hội 67 đảng bộ quận, huyện và cấp trên cơ sở; tổ chức các cuộc họp để Thường trực Thành ủy trực tiếp lắng nghe ý kiến góp ý của: Các ban Đảng Trung ương và bộ - ngành; cán bộ cách mạng lão thành, cán bộ cao cấp nghỉ hưu; Mặt trận Tổ quốc, nhân sĩ, trí thức, các vị chức sắc tôn giáo, đại biểu đồng bào các dân tộc; Ban Thường vụ các đoàn thể chính trị - xã hội Thành phố; Đại biểu Hội đồng nhân dân; Ban Thường vụ Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật, Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật, Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị. Sau một tháng công bố trên các cơ quan báo chí dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố, Thành ủy đã tiếp nhận hơn 31.780 lượt ý kiến đóng góp của đảng viên, cán bộ và Nhân dân Thành phố và 209 bài viết trên báo chí Trung ương và Thành phố.

- Đa số ý kiến đánh giá cao quá trình chuẩn bị và đồng ý cơ bản những nội dung trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X. Nhân dân Thành phố đặc biệt quan tâm đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ IX nhiệm kỳ 2010 - 2015. Khẳng định những thành tựu quan trọng đạt được trên tất cả các lĩnh vực. Nhiều ý kiến đóng góp thẳng thắn những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan với mong muốn nhanh chóng khắc phục thật hiệu quả, tạo được chuyển biến rõ rệt. Rất nhiều ý kiến phân tích về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của kinh tế Thành phố trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn; trên các lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị, xây dựng nông thôn mới, quản lý đất đai, giải quyết ngập nước, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, đảm bảo an toàn thực phẩm, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế..., với những lý giải thấu đáo và đề nghị nhiều giải pháp thiết thực khả thi. Nhiều ý kiến mong muốn Thành phố giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh để Nhân dân an tâm làm ăn, phát triển; bày tỏ sự tha thiết là Đảng bộ Thành phố thật trong sạch, vững mạnh, luôn quan hệ máu thịt với Nhân dân, đảng viên tiền phong gương mẫu, chính quyền các cấp sát dân, phục vụ Nhân dân tốt hơn, hệ thống chính trị vững mạnh. Đặc biệt, gửi gắm sự kỳ vọng vào Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố nhiệm kỳ mới, trước hết phải là những đồng chí có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ, năng lực và luôn bám sát thực tiễn, cảm nhận, thấu hiểu được đòi hỏi của cuộc sống, của xã hội, khi đó nhất định sẽ có kế sách đúng đắn giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển Thành phố. Mỗi ý kiến phân tích một hoặc nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng tất cả đều thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, tâm huyết, trí tuệ; xuyên suốt là niềm tin đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, đối với Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh và con đường phát triển của đất nước, của Thành phố.

- Kết quả của Đại hội là sự tiếp thu nghiêm túc, phản ánh ý chí nguyện vọng của đồng bào, đồng chí về việc tiếp tục sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển và bảo vệ Thành phố trong giai đoạn sắp tới.

1. Kết quả thảo luận tại Đại hội:

Đại hội đã thảo luận góp ý kiến dự thảo Báo cáo chính trị, dự thảo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X, đã có 162 đại biểu góp ý; với 172 lượt góp ý, với 642 ý kiến. Hầu hết ý kiến đóng góp rất thẳng thắn, với tinh thần trách nhiệm cao, tâm huyết, dân chủ. Đa số ý kiến thống nhất với dự thảo Báo cáo chính trị, phấn khởi với những thành tựu có ý nghĩa lịch sử Thành phố đã đạt được; các góp ý tập trung vào nhiệm vụ, giải pháp phát triển Thành phố nhanh và bền vững, có chất lượng sống tốt, chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho Nhân dân, xây dựng Đảng bộ Thành phố thật trong sạch vững mạnh.

- Về đánh giá chung, đa số ý kiến đồng tình với nhận định, đánh giá chung kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, Thành phố đã có nhiều đột phá về cơ chế chính sách, mang đậm tính nhân văn, giải quyết được những bức xúc khó khăn, tạo được sự đồng thuận trong Nhân dân; thẳng thắn nhìn nhận các khuyết điểm, hạn chế, đề ra giải pháp thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ Thành phố.

- Về mục tiêu, hầu hết ý kiến đánh giá mục tiêu tổng quát trong nhiệm kỳ được xây dựng tương đối toàn diện, có tầm nhìn chiến lược, thể hiện ý chí, quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thành phố đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển Thành phố trong những năm tới; tâm đắc với lộ trình xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình. Tuy nhiên cần có lộ trình và giải pháp hiệu quả hơn.

- Về các chỉ tiêu chủ yếu, hầu hết ý kiến thống nhất cao với 14 chỉ tiêu chủ yếu, tuy nhiên cần có lộ trình, kế hoạch thực hiện và các giải pháp đồng bộ, quyết tâm của cả hệ thống chính trị Thành phố; đồng thời, phải tiếp tục kiến nghị Trung ương cho Thành phố có cơ chế đặc biệt để huy động mọi nguồn lực cho sự phát triển, quản lý đối với một đô thị đặc biệt.

2. Đại hội đã kiểm điểm sâu sắc việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ Thành phố và khẳng định trong 5 năm qua (2010 - 2015), Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thành phố đã bám sát thực tiễn, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội, hoàn thành cơ bản các mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2010 - 2015, đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, tạo sự chuyển biến căn bản trong đời sống xã hội, góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung của vùng và cả nước:

2.1. Kinh tế:

Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng khá cao, bình quân 9,6%/năm, từ năm 2013, GDP năm sau tăng cao hơn năm trước; quy mô kinh tế được mở rộng, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh được cải thiện, đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) ngày càng tăng, giai đoạn 2011 - 2015 đạt 33,1%; tăng trưởng kinh tế giảm phụ thuộc vào vốn đầu tư. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, đúng định hướng, dịch vụ chiếm 59,9%, công nghiệp - xây dựng chiếm 39,2% và nông nghiệp chiếm 0,9%; chuyển dịch cơ cấu nội ngành rõ rệt, tăng dần các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, 4 ngành công nghiệp trọng yếu, nông nghiệp đô thị. Chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát tốt; huy động được nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đóng góp ngân sách của Thành phố vào ngân sách cả nước năm sau cao hơn năm trước, năm 2011 chiếm 27,7%, năm 2014 chiếm 30%, tăng gấp 2 lần giai đoạn 2006 - 2010. Góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội. GDP bình quân đầu người tăng 12%/năm, đến cuối năm 2015 ước đạt 5.538 USD/người. Vai trò, vị trí của Thành phố về kinh tế ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng trong nền kinh tế đất nước từ 18,3% năm 2011 tăng lên 21,5% năm 2014.

Doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả. Kinh tế tập thể phát triển khá. Kinh tế ngoài Nhà nước phát triển nhanh, có tỷ trọng cao nhất. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng về số lượng, tỷ trọng và chất lượng.

Môi trường đầu tư, sản xuất - kinh doanh được cải thiện; thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào các ngành, lĩnh vực phù hợp quy hoạch. Tổng vốn đầu tư xã hội và hiệu quả đầu tư tăng; giai đoạn 2006 - 2010 một đồng vốn ngân sách thu hút 8,5 đồng vốn xã hội, giai đoạn 2011 - 2015 thu hút trên 12,5 đồng; chỉ số ICOR bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 3,56.

2.2. Quy hoạch, quản lý và phát triển đô thị:

Thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Thành phố đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 gắn với quy hoạch vùng; phủ kín quy hoạch chi tiết 1/2.000 toàn thành phố; ban hành quy hoạch Khu Trung tâm Thành phố, quy chế quản lý kiến trúc - quy hoạch chung Thành phố.

Kết cấu hạ tầng đô thị được tập trung đầu tư; sử dụng hiệu quả vốn ODA, vốn ngân sách; đưa vào sử dụng nhiều công trình giao thông, cấp nước, thoát nước trọng điểm, tăng khả năng kết nối, phát triển thành phố về phía Đông, Tây và Nam; từng bước giảm ùn tắc giao thông, giảm ngập nước, giảm ô nhiễm môi trường; nâng cao năng lực vận tải đường thủy, phát triển cảng biển cùng dịch vụ logistic (dịch vụ tiếp vận) về phía Đông và Nam Thành phố. Vừa chỉnh trang đô thị hiện hữu, vừa phát triển các khu đô thị mới; thực hiện hiệu quả chương trình giải tỏa nhà ở trên và ven kênh rạch, tổ chức lại cuộc sống dân cư. Phát triển nhà ở xã hội, khu lưu trú công nhân, ký túc xá sinh viên.

2.3. Giáo dục - đào tạo, văn hóa - xã hội:

Chất lượng dạy và học được nâng lên, chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện khá tốt. Gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng, phát triển con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Hệ thống thiết chế văn hóa được đầu tư, từng bước đáp ứng nhu cầu của Nhân dân. Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân, chất lượng khám, chữa bệnh được cải thiện. Thực hiện tốt chính sách y tế cho trẻ dưới 6 tuổi, người có công, đối tượng chính sách và người nghèo.

Hoàn thành mục tiêu giảm hộ nghèo giai đoạn 2009 - 2015, hộ nghèo có thu nhập dưới 16 triệu đồng/người/năm còn 0,89%; hộ cận nghèo có thu nhập dưới 21 triệu đồng/người/năm còn 2,39%. Cơ bản hoàn thành Chương trình xây dựng nông thôn mới. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công, các chương trình an sinh xã hội; cải thiện đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của Nhân dân. Chương trình giảm nghèo và Chương trình xây dựng nông thôn mới đem lại hiệu quả thiết thực, có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống Nhân dân Thành phố, đã kéo giảm chênh lệch mức sống các nhóm dân cư từ 10 lần vào năm 1992 xuống còn 6,6 lần năm 2014, kéo giảm chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn từ 1,8 lần năm 2008 xuống còn 1,2 lần năm 2014.

2.4. Quốc phòng - an ninh, tư pháp, đối ngoại:

Gắn phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân, thực hiện tốt các chính sách thuận lòng dân. Xây dựng lực lượng vũ trang Thành phố vững mạnh toàn diện.

Giữ vững ổn định chính trị trong mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ; ngăn chặn có hiệu quả âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, chống phá của các thế lực thù địch; xử lý đúng đắn, kịp thời, hiệu quả các tình huống kích động, gây rối an ninh chính trị, bảo đảm môi trường đầu tư, các hoạt động sản xuất - kinh doanh. Chú trọng đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế được tăng cường; chủ động và tích cực đẩy mạnh các hoạt động quảng bá du lịch, xúc tiến thương mại, đầu tư; thực hiện tốt công tác về người Việt Nam ở nước ngoài.

2.5. Sáu chương trình đột phá:

Tạo chuyển biến bước đầu trong bảo đảm nhu cầu lao động chất lượng cao cho 9 ngành dịch vụ, 4 ngành công nghiệp trọng yếu, xây dựng nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị, đội ngũ quản lý doanh nghiệp. Cải cách hành chính có tiến bộ. Hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh được nâng lên. Hệ thống hạ tầng giao thông đô thị được đầu tư, phát triển không gian đô thị và kết nối Vùng; ùn tắc giao thông được kéo giảm bước đầu, tai nạn giao thông giảm sâu cả 3 mặt. Ô nhiễm môi trường giảm đáng kể.

2.6. Xây dựng Đảng bộ, chính quyền, vận động Nhân dân:

2.6.1. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Thành phố đến cơ sở đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đối với 3 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng với quyết tâm chính trị cao. Tổ chức kiểm điểm tự phê bình, phê bình, tiếp thu phê bình nghiêm túc, trách nhiệm, cầu thị, thực chất. Tập trung thực hiện và kiểm tra các cấp ủy việc thực hiện khắc phục, sửa chữa những thiếu sót, hạn chế, khuyết điểm; hoàn thành cơ bản 52 đầu việc theo Kết luận sau kiểm điểm tự phê bình, phê bình, hầu hết các đề án, quy chế, quy định được ban hành, tổ chức thực hiện đạt kết quả bước đầu thiết thực, tạo chuyển biến bước đầu quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ Thành phố.

Chủ động phòng ngừa, kiên trì giáo dục, đấu tranh, xử lý những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những trường hợp “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Hoạt động báo chí, xuất bản được chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý, ngăn ngừa, khắc phục bước đầu những lệch lạc, biểu hiện xa rời tôn chỉ, mục đích.

Công tác tổ chức, cán bộ được thực hiện đồng bộ, chặt chẽ. Xây dựng, bổ sung các quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quan hệ công tác của các tổ chức đảng; quy chế phối hợp của các cơ quan trong hệ thống chính trị; tiêu chuẩn chức danh cán bộ. Công tác cán bộ bảo đảm nguyên tắc, dân chủ, khách quan, nội bộ đoàn kết; nâng cao hiệu quả đánh giá, nhận xét cán bộ; nâng cao chất lượng quy hoạch cán bộ và thực hiện các bước tiếp theo sau quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch cán bộ nguồn Thành ủy khóa X, cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc Thành ủy khóa X và những năm tiếp theo, tăng số lượng, tăng tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ tuổi. Việc đào tạo, tăng cường cán bộ xuất thân từ công nhân, cán bộ trẻ tuổi đạt kết quả tích cực; bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; thực hiện nghiêm túc việc lấy phiếu tín nhiệm cán bộ; bổ sung các chính sách, quy định và đẩy mạnh thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, luân chuyển cán bộ để rèn luyện từ thực tiễn; đẩy mạnh chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ cho hệ thống chính trị; thí điểm chính sách thu hút chuyên gia khoa học - công nghệ đạt kết quả bước đầu tích cực; đẩy mạnh thu hút, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy đối với hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm sự lãnh đạo tập thể, đề cao vai trò, trách nhiệm cá nhân. Rà soát, bổ sung hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy, Thường trực Thành ủy; nâng cao chất lượng, hiệu quả đi cơ sở, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Tăng cường mối quan hệ máu thịt với Nhân dân, nỗ lực chăm lo tốt hơn đời sống Nhân dân, giải quyết những vấn đề bức xúc của Nhân dân; nâng cao ý thức trách nhiệm phục vụ Nhân dân của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; lãnh đạo Thành phố tăng cường tiếp công dân, tập trung giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc khiếu nại tồn đọng, kéo dài.

2.6.2. Thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình, tiếp thu phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng đã tạo chuyển biến tích cực, sâu sắc hơn trong nhận thức và hành động tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, tính gương mẫu, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, của người đứng đầu.

Chủ động xây dựng và triển khai học tập chuyên đề “Phấn đấu vượt qua khó khăn, hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân”; lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị xây dựng chương trình, kế hoạch, đề ra các giải pháp gắn với thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, thực hiện nhiệm vụ chính trị thường xuyên. Xây dựng và thực hiện những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của ngành, sát với đặc điểm, tình hình cơ sở. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nội dung học tập chuyên đề vào sinh hoạt của tổ chức đảng, cơ quan, đoàn thể, trở thành công việc thường xuyên, hàng ngày của mỗi cơ quan, đơn vị, là trách nhiệm cụ thể, thiết thực của mỗi cá nhân, nhất là người đứng đầu.

2.6.3. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng được củng cố, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên sát, đúng thực chất; số lượng, chất lượng đảng viên mới kết nạp tăng. Lãnh đạo, chỉ đạo đại hội đảng bộ cơ sở và cấp trên cơ sở nhiệm kỳ 2015 - 2020 đạt yêu cầu, chất lượng. Tích cực xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện chặt chẽ.

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng được coi trọng, có trọng tâm, trọng điểm; xử lý nghiêm minh các khuyết điểm, vi phạm. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đạt kết quả bước đầu; giải quyết dứt điểm một số vụ án tham nhũng nổi cộm, phức tạp.

2.6.4. Hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước được cải thiện. Tổ chức, bộ máy các cơ quan quản lý Nhà nước được kiện toàn, sắp xếp; giảm mạnh thủ tục hành chính, giảm phiền hà, nhũng nhiễu.

2.6.5. Công tác dân vận của hệ thống chính trị được tập trung, trong đó công tác dân vận của chính quyền được chú trọng; tăng cường tiếp xúc, đối thoại với Nhân dân, kịp thời điều chỉnh, bổ sung chủ trương, chính sách, giải quyết thấu tình, đạt lý những bức xúc của Nhân dân. Thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt hơn vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. Chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ công tác dân vận, Mặt trận và các đoàn thể; phát triển, củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức, đoàn viên, hội viên; phát huy tốt vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

3. Hạn chế, yếu kém:

3.1. Tăng trưởng kinh tế không đạt chỉ tiêu, chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng của Thành phố; chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập chưa đạt yêu cầu. Tiềm năng, lợi thế khai thác chưa đạt hiệu quả cao; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ có giá trị cao còn thấp; chậm đầu tư công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ vận tải đa phương thức - hậu cần hàng hải, xuất - nhập khẩu. Yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chưa cao.

3.2. Quy hoạch, quản lý đô thị và phát triển kết cấu hạ tầng đô thị chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh tế - văn hóa, cải thiện dân sinh và bảo vệ môi trường.

3.3. Chất lượng giáo dục - đào tạo và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế; khoa học - công nghệ chưa thật sự là động lực thúc đẩy phát triển; phát triển văn hóa chưa tương xứng với vai trò, vị trí là trung tâm văn hóa lớn của cả nước; khắc phục một số vấn đề bức xúc trên lĩnh vực văn hóa - xã hội còn chậm.

3.4. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, một số nơi, lĩnh vực còn tiềm ẩn yếu tố có thể gây bất ổn, bức xúc trong Nhân dân.

3.5. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 6 chương trình đột phá có một số mặt triển khai chậm, có chương trình hiệu quả chưa cao, giảm ùn tắc giao thông, giảm ô nhiễm môi trường chuyển biến chậm, tình trạng ngập nước gay gắt hơn.

3.6. Kết quả xây dựng Đảng một số mặt, một số nơi còn hạn chế; hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực còn thiếu trách nhiệm với Nhân dân. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI ở một số tổ chức đảng kết quả thấp; chưa tạo sự chuyển biến rõ rệt trong xây dựng Đảng. Kết quả thực hiện đề án, quy định, kế hoạch, hướng dẫn đã được ban hành có nội dung chưa đáp ứng yêu cầu. Một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các giải pháp khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm chưa quyết liệt, chưa đồng bộ, chưa thật gắn với giải quyết những vấn đề bức xúc của địa phương, đơn vị.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa tạo sức lan tỏa mạnh; chuyển biến của một số cấp ủy, cán bộ, đảng viên chưa sâu sắc. Công tác phòng ngừa, giáo dục, đấu tranh, phê phán và xử lý các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị còn hạn chế, có trường hợp xử lý chưa kiên quyết; biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tuy ít, nhưng đã bộc lộ rõ và gay gắt hơn, tác hại nghiêm trọng vào tư tưởng trong Đảng bộ và trong xã hội.

Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Một số tổ chức cơ sở đảng đánh giá, phân tích chất lượng chưa đúng thực chất. Công tác đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu. Kết quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu.

Công tác cải cách hành chính còn hạn chế; tình trạng quan liêu, nhũng nhiễu vẫn còn; trách nhiệm của người đứng đầu còn thấp.

Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chậm đổi mới. Công tác dân vận của chính quyền ở một số nơi chưa được quan tâm thực hiện. Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở một số nơi còn hình thức; vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chưa rõ.

4. Đánh giá chung:

Kinh tế tăng trưởng khá cao, chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, tái cấu trúc kinh tế đạt kết quả bước đầu, hoàn thành cơ bản chương trình xây dựng nông thôn mới. Chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh được cải thiện, hiệu quả đầu tư tăng. Công tác quản lý và phát triển đô thị có chuyển biến tích cực, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị đạt kết quả thiết thực; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường được tăng cường. Văn hóa, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ có chuyển biến tích cực, chất lượng chăm sóc sức khỏe Nhân dân được cải thiện, thực hiện các chính sách an sinh xã hội đạt nhiều kết quả thiết thực. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, chất lượng cán bộ, đảng viên được nâng lên; hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, chất lượng công vụ của cán bộ, công chức chuyển biến khá; vai trò của Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội được phát huy. Công tác đối ngoại đạt kết quả tích cực. Phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn kết, năng động, sáng tạo, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thành phốnỗ lực đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực; từ thực tiễn Thành phố, góp phần để Trung ương nghiên cứu hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt trên 2 (hai) vấn đề lớn là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Những kết quả đạt được 5 năm qua đã góp phần khẳng định thành tựu chung của Thành phố trong ba mươi năm đổi mới, một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển, Thành phố “đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, tạo sự chuyển biến căn bản trong đời sống xã hội, góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung của vùng và cả nước”; đến nay “thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước”.

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế không đạt chỉ tiêu Nghị quyết, chưa tạo được đột phá trong chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh, chưa tương xứng với tiềm năng của Thành phố. Quy hoạch, quản lý đô thị và kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - văn hóa, cải thiện dân sinh, bảo vệ môi trường. Chất lượng giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập. Khoa học - công nghệ chưa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội. Một số vấn đề bức xúc trong xã hội chậm được khắc phục. An ninh, trật tự, tội phạm, tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố gây bất ổn. Chưa tạo được chuyển biến rõ rệt trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước có mặt còn yếu kém.

Những thành tựu đạt được do sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, kịp thời và có hiệu quả của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ; sự hỗ trợ, tháo gỡ nhiều vướng mắc, khó khăn, tạo điều kiện phát huy vị trí, vai trò thành phố của các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương; tinh thần đoàn kết và sự phấn đấu, nỗ lực cao độ của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thành phố.

Những hạn chế, yếu kém chủ yếu do năng lực dự báo tình hình của Thành ủy còn bất cập, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn những mặt hạn chế; chậm cụ thể hóa Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị; một số chủ trương, chính sách chưa được triển khai thực hiện mạnh mẽ; chưa có chủ trương, biện pháp tạo sự đột phá trong thu hút đầu tư, thực hiện đối tác công - tư (PPP); chưa kiên trì kiến nghị với Trung ương để có cơ chế, chính sách phát huy tiềm năng, lợi thế nhằm tạo sức mạnh liên kết của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; chậm tổng kết thực tiễn và nhân rộng các mô hình hiệu quả; còn lúng túng trong biện pháp đấu tranh, xử lý đối với biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một số cán bộ, đảng viên; công tác quản lý, giáo dục cán bộ về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống còn hạn chế; lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn tổ chức, đổi mới công tác cán bộ hiệu quả chưa cao.

5. Đại hội tổng kết kinh nghiệm thực tiễn 5 năm qua:

Thứ nhất, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và Nhân dân Thành phố, truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn kết, năng động, sáng tạo của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thành phố. Càng khó khăn, càng phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, nhạy bén vận dụng đưa nghị quyết vào cuộc sống; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội và sự tham gia thực hiện của Nhân dân.

Thứ hai, nhận thức sâu sắc và xác định trách nhiệm rất cao về vai trò, vị trí Thành phố, là nơi hội tụ và lan tỏa, vì cả nước, cùng cả nước; thực hiện tốt các chính sách an dân, xây dựng thế trận lòng dân; giữ vững ổn định chính trị trong mọi tình huống; đẩy mạnh hợp tác kinh tế - văn hóa - xã hội với các tỉnh, thành phố trong cả nước và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, phát triển nhanh, bền vững; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, xây dựng Thành phố văn minh, hiện đại, nghĩa tình; phải luôn thấm nhuần quan điểm tin dân, trọng dân, học dân, dựa vào dân, chăm lo cho cơ sở, phát huy sức dân để chăm lo cho dân, thực hiện tốt an sinh xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng sống của Nhân dân.

Thứ tư, phải chú trọng tổng kết thực tiễn, nhân rộng các mô hình, cách làm hiệu quả; chủ động sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền và chủ động phối hợp với ban, bộ, ngành, kiên trì đề xuất Trung ương sửa đổi, bổ sung những cơ chế, chính sách không còn phù hợp; đồng thời, kịp thời đề xuất, kiến nghị cho Thành phố thực hiện thí điểm những cơ chế, chính sách mới để khai thác thế mạnh, phát huy vị trí, vai trò Thành phố.

Thứ năm, phải tập trung xây dựng Đảng bộ thật trong sạch, vững mạnh, là nhiệm vụ then chốt; thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là trọng tâm xây dựng Đảng; đánh giá, quy hoạch, bố trí đúng cán bộ, phát huy nhân tài, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu. Tập thể Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy phải luôn đoàn kết, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; bám sát thực tiễn, dự báo sát, có giải pháp tích cực để thực hiện đạt kết quả cao nhất chỉ tiêu, nhiệm vụ.

6. Đại hội xác định mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ Thành phố trong 5 năm tới (2015 - 2020).

6.1. Bối cảnh:

Trong những năm tới, tình hình thế giới và trong nước sẽ có những thuận lợi, thời cơ và nhiều khó khăn, thách thức, đan xen phức tạp. Đất nước ta tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, thực hiện lộ trình các cam kết quốc tế; vấn đề Biển Đông, biên giới Tây Nam, vấn đề biến đổi khí hậu, nước biển dâng... sẽ là sức ép rất lớn cả về năng lực cạnh tranh và ổn định chính trị trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đòi hỏi Đảng bộ và Nhân dân Thành phố phải nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa.

6.2. Mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu trong nhiệm kỳ 2015 - 2020:

- Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thành phố kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, ra sức phát huy truyền thống vẻ vang “Xây dựng Đảng bộ Thành phố thật trong sạch, vững mạnh; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; không ngừng đổi mới, năng động, sáng tạo, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của kinh tế Thành phố, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; nâng cao phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình; có vai trò động lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; sớm trở thành một trong những trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học - công nghệ của khu vực Đông Nam Á”.

CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU:

1. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa trên địa bàn Thành phố (GRDP) bình quân hàng năm từ 8% - 8,5% (tính theo GDP thì tăng hơn 1,5 lần mức tăng trưởng GDP bình quân của cả nước), chuyển dịch cơ cấu theo định hướng dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, nông - lâm nghiệp và thủy sản; trong đó tỷ trọng của dịch vụ trong GRDP đến năm 2020 chiếm từ 56% đến 58%.

2. Tỷ trọng đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào GRDP bình quân hàng năm từ 35% trở lên.

3. Tổng vốn đầu tư xã hội chiếm bình quân khoảng 30% GRDP.

4. GRDP bình quân đầu người đến cuối năm 2020 đạt 9.800 USD.

5. Đến năm 2020, tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo nghề đạt 85% trong tổng số lao động làm việc.

6. Trong 5 năm, tạo việc làm mới cho 625.000 lao động (bình quân 125.000 lao động/năm), tỷ lệ thất nghiệp đô thị dưới 4,5%.

7. Đến cuối năm 2020, thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo tăng so với đầu năm 2011 là 3,5 lần; giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn chương trình “Giảm nghèo bền vững” giai đoạn 2016 - 2020 bình quân 1%/năm.

8. Đến cuối năm 2020, đảm bảo nước sạch cho 100% hộ dân.

9. Đến cuối năm 2020, tổng diện tích nhà ở xây dựng mới đạt 40 triệu m2 và diện tích nhà ở bình quân đầu người đạt 19,8 m2/người.

10. Đến cuối năm 2020, đạt 300 phòng học/10.000 dân trong độ tuổi đi học (từ 3 tuổi đến 18 tuổi).

11. Đến cuối năm 2020, đạt tỷ lệ 20 bác sỹ/10.000 dân, 42 giường bệnh/10.000 dân.

12. Đến cuối năm 2020, xử lý chất thải y tế và nước thải công nghiệp đạt 100%.

13. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh năm sau cao hơn năm trước theo hướng ngày càng thực chất hơn; kéo giảm tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng yếu kém xuống dưới 0,5%/năm.

14. Về năng lực quản lý của bộ máy chính quyền, phấn đấu Thành phố trong nhóm 5 (năm) địa phương dẫn đầu cả nước về xếp hạng chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số cải cách hành chính (PAR-index).

6.3. Đại hội nhất trí đề ra nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu:

6.3.1. Tạo sự đột phá trong nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh:

Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển kinh tế tri thức và tăng trưởng xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh. Phát triển nhanh 9 ngành dịch vụ có hàm lượng tri thức, giá trị gia tăng cao, 4 ngành công nghiệp trọng yếu, các ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và nông nghiệp đô thị. Phát triển và quản lý tốt các loại thị trường hàng hóa, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học - công nghệ, thị trường lao động.

Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư. Nâng cao sự chủ động khi Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hình thành cộng đồng ASEAN, thực hiện các hiệp định tự do thương mại (FTA) song phương, đa phương. Phát huy vai trò động lực của Thành phố trong phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh của vùng.

6.3.2. Phát triển đô thị bền vững, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ:

Hoàn chỉnh, nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý tốt việc thực hiện quy hoạch, thiết kế đô thị, quy hoạch kiến trúc, quy hoạch xây dựng nông thôn mới gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, quy hoạch phát triển ngành - lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu.

Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông; các hệ thống cấp nước, thoát nước, chống ngập nước, hạ tầng viễn thông… kết nối hạ tầng các tỉnh, thành phố trong vùng thành phố Hồ Chí Minh. Phấn đấu năm 2018 hoàn thành tuyến đường sắt Bến Thành - Suối Tiên; khẩn trương khởi công các tuyến còn lại theo quy hoạch. Thu hút mạnh và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Đẩy mạnh kêu gọi và tập trung thực hiện các dự án đầu tư theo phương thức hợp tác công - tư (PPP).

Tập trung chỉnh trang và phát triển đô thị. Phấn đấu hoàn thành việc di dời toàn bộ nhà ở trên và ven kênh rạch, tổ chức lại cuộc sống dân cư tốt hơn. Xây dựng mới các chung cư cũ, chỉnh trang các khu phố cũ, đồng thời thu hút đầu tư xây dựng các khu đô thị mới; phát triển các dự án nhà ở xã hội, khu lưu trú công nhân, ký túc xá sinh viên. Đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng nông thôn.

6.3.3. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo:

Phấn đấu đến năm 2020, hệ thống giáo dục - đào tạo Thành phố được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế để đào tạo nghề theo yêu cầu, tiêu chí của doanh nghiệp. Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh thành một Thành phố học tập, một trung tâm giáo dục - đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực Đông Nam Á.

6.3.4. Phát triển, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ thật sự là động lực phát triển kinh tế - xã hội:

Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, chính sách tài chính để tạo bước phát triển đột phá cho khoa học - công nghệ; ưu tiên đầu tư cho khoa học - công nghệ so với các lĩnh vực khác; xác định danh mục sản phẩm chủ yếu để đặt hàng với các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu; gắn kết nghiên cứu, đào tạo với sản xuất - kinh doanh. Thực hiện thật tốt chính sách với đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia giỏi. Khuyến khích đầu tư xã hội, tăng đầu tư công để nâng chất lượng, hiệu quả thực tiễn của các chương trình khoa học - công nghệ trọng điểm.

6.3.5. Phát triển văn hóa, xây dựng con người:

Xây dựng môi trường văn hóa để con người phát triển toàn diện; nghiên cứu, phát huy đặc trưng, tính cách của con người Thành phố trong đặc điểm chung của con người Việt Nam. Đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa tiêu biểu; khuyến khích sáng tạo, sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học - nghệ thuật có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao. Tích cực ngăn chặn và từng bước đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội; đề cao vai trò, trách nhiệm của gia đình trong giáo dục, hình thành nhân cách thế hệ trẻ. Phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên. Nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của Nhân dân, nhất là ở khu vực nông thôn.

6.3.6. Phát triển y tế, thể dục - thể thao:

Huy động các nguồn vốn xây dựng mới bệnh viện, sắp xếp lại các bệnh viện tuyến quận - huyện theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả khám, chữa bệnh; khẩn trương chấm dứt tình trạng quá tải các bệnh viện tuyến trên. Phát triển hệ thống y tế dự phòng.

Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các phong trào thể dục - thể thao quần chúng, nâng cao thể chất của Nhân dân; chú trọng đầu tư phát triển thể dục - thể thao học đường; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động thể thao. Phát triển thể thao thành tích cao.

6.3.7. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội:

Gắn phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm mọi người dân đều công bằng trong tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa, hưởng thụ các thành quả phát triển của Thành phố. Chú trọng xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp. Đẩy mạnh các biện pháp giảm nghèo bền vững, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa nội thành và ngoại thành. Nâng cao chất lượng sống của Nhân dân, trợ giúp cho các đối tượng yếu thế, neo đơn.

6.3.8. Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh vững chắc:

Xử lý kịp thời, hiệu quả các vấn đề an ninh chính trị, các vụ tranh chấp lao động tập thể, đình công trái pháp luật, không để bị động, bất ngờ. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Xây dựng nền tảng chính trị vững chắc trong thế trận lòng dân, bảo đảm các chính sách đều thuận lòng dân. Gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội với nhiệm vụ tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng lực lượng vũ trang Thành phố vững mạnh toàn diện. Thực hiện có hiệu quả chiến lược cải cách tư pháp.

6.3.9. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế:

Tăng cường đổi mới hoạt động tuyên truyền, thông tin đối ngoại, quảng bá hình ảnh Việt Nam và Thành phố để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và kiều bào tham gia phát triển Thành phố, xây dựng đất nước. Chủ động ngăn ngừa, tác động tiêu cực phát sinh trong quá trình hội nhập quốc tế. Thực hiện tốt các nội dung hợp tác đã ký kết với các địa phương các nước và tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, chú trọng chất lượng và hiệu quả hợp tác. Thực hiện tốt công tác về người Việt Nam ở nước ngoài.

6.3.10. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng bộ với Nhân dân; phát huy dân chủ, kỷ cương và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc:

Nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước. Thực hiện hiệu quả quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị, quy chế dân chủ ở cơ sở; làm tốt chính sách dân tộc, tôn giáo. Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác dân vận.

Tiếp tục kiện toàn tổ chức, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội, khắc phục tình trạng hành chính hóa; đổi mới mạnh mẽ phương thức tập hợp các tầng lớp Nhân dân, xây dựng lực lượng nòng cốt ở các lĩnh vực, địa bàn trọng yếu.

6.3.11. Xây dựng chính quyền hiệu lực, hiệu quả:

Sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy, tiếp tục thực hiện chủ trương tinh giản biên chế; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước. Thực hiện thi tuyển chức danh lãnh đạo cấp phó sở, ngành, chức danh trưởng phòng thuộc quận, huyện. Nghiên cứu đề xuất thực hiện thí điểm cử tri trực tiếp bầu một số chức danh ở phường - xã, thị trấn, quận - huyện.

Xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, năng động, phục vụ Nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; xây dựng chính quyền điện tử. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa và công khai thủ tục hành chính.

6.3.12. Xây dựng Đảng bộ thật trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, chất lượng cán bộ, đảng viên

Tập trung thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng Đảng.

Xây dựng Đảng bộ vững mạnh về tư tưởng chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng; thực hiện hiệu quả “Phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ và phản bác các quan điểm sai trái”.

Đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu trong rèn luyện đạo đức, lối sống. Nâng cao hiệu quả thực hiện các chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác Hồ sát với đặc điểm địa phương, đơn vị; tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ.

Tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng bộ và hệ thống chính trị. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy. Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên đúng thực chất. Đẩy mạnh phát triển đảng viên, chú trọng kết nạp đảng từ công nhân, trí thức, thanh niên.

Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ; xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh. Nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ tuổi, cán bộ nữ, cán bộ xuất thân từ công nhân... Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chú trọng vấn đề chính trị hiện nay.

Nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Chú trọng kiểm tra, giám sát các lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy và các cấp ủy; nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc bảo đảm khoa học, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, nói đi đôi với làm. Chăm lo xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

6.3.13. Bảy chương trình đột phá: (1) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (2) Cải cách hành chính; (3) Nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh của kinh tế Thành phố đáp ứng yêu cầu hội nhập; (4) Giảm ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông; (5) Giảm ngập nước; (6) Giảm ô nhiễm môi trường; (7) Chỉnh trang và phát triển đô thị.

II. Một số điểm mới trong Văn kiện Đại hội:

1. Thành phố có chất lượng sống tốt:

- Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm phát triển khác nhau về phát triển đô thị: Thành phố sống tốt, thành phố toàn cầu, thành phố phát triển bền vững, thành phố thông minh, thành phố sức khỏe… và nhiều cách đánh giá khác nhau, xếp hạng khác nhau… nhưng tựu trung là làm sao phục vụ con người ngày càng tốt hơn, làm sao cho chất lượng cuộc sống của cư dân được cải thiện tốt hơn. Tất cả những quan điểm này là cơ sở tham khảo để thành phố Hồ Chí Minh phát triển phù hợp với đặc điểm của thực tiễn Thành phố để từ đó, phù hợp với các điểm chung nhất của việc phát triển hệ thống đô thị thế giới và có thể so sánh đối chiếu với các hệ thống xếp hạng quốc tế.

- Khái niệm “Thành phố sống tốt” của Thế giới là một khái niệm được đưa ra theo một danh sách căn cứ vào các cuộc điều tra thường niên về điều kiện sống, chất lượng cuộc sống, tiêu biểu là cuộc điều tra của Công ty tư vấn Mercer là đơn vị tư vấn hoạt động trên nhiều lĩnh vực như nguồn nhân lực, tài chính… Hàng năm, Mercer đều công bố bảng xếp hạng về chất lượng cuộc sống của các thành phố theo 39 tiêu chí của mình. Mercer phân tích chất lượng sống của các thành phố theo 39 yếu tố, nhóm lại trong 10 loại: (1) Chính trị và môi trường xã hội; (2) Môi trường kinh tế; (3) Môi trường văn hóa - xã hội; (4) Y tế và vệ sinh môi trường; (5) Trường học và giáo dục; (6) Dịch vụ công và giao thông vận tải; (7) Giải trí; (8) Hàng tiêu dùng; (9) Nhà ở; (10) Môi trường tự nhiên. Đối với Việt Nam, năm 2006, Hà Nội được xếp thứ 155; thành phố Hồ Chí Minh được xếp thứ 148 trên 215 thành phố. Đến năm 2015, thứ hạng có thay đổi, thành phố Hồ Chí Minh là 153 và Hà Nội là 154 trên 230 thành phố.

- Chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, dựa trên sự tổng hòa của các vấn đề liên quan đến cuộc sống con người từ chính trị, kinh tế, xã hội đến môi trường, hệ thống giao thông, chăm sóc sức khỏe, an ninh, giáo dục... Kinh tế chỉ là một trong những tiêu chí để đảm bảo chất lượng cuộc sống con người. Dù cho đời sống vật chất của người dân được nâng lên rõ rệt, nhưng nếu, hàng ngày hàng giờ người dân đang phải đối mặt với ô nhiễm môi trường, giao thông đi lại, ngập lụt, y tế, an sinh xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm, tai nạn giao thông thì chất lượng cuộc sống khó tăng… Hàng loạt lý do như thế đã kéo giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta. Phát triển như thế nào để đảm bảo sự bền vững, để chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng lên mới là điều quan trọng nhất. Một thành phố giàu có chưa chắc đã là một thành phố có chất lượng sống tốt. Một thành phố có chất lượng sống tốt là một thành phố mà trong đó người dân cảm thấy thoải mái hạnh phúc và được sống tốt.

- Trên cơ sở đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ X đã xác định hệ thống chỉ tiêu trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố, Đảng bộ và hệ thống chính trị giai đoạn 2015 - 2020 gắn kết với bộ tiêu chí nhằm xây dựng thành phố Hồ Chí Minh thành Thành phố có chất lượng sống tốt thông qua phấn đấu thực hiện 14 chỉ tiêu và các nhiệm vụ quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh..

2. Báo cáo chính trị xác định và nhấn mạnh vai trò quan trọng của lĩnh vực “Khoa học - công nghệ”, bố cục riêng thành 1(một) mục trong phần nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để tạo chuyển biến rõ rệt trong nhận thức và chỉ đạo, thực hiện để khoa học - công nghệ thật sự là động lực phát triển kinh tế - xã hội:

- Thực hiện 3 (ba) đột phá chiến lược trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, trong đó nhấn mạnh “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ”. Thực hiện đột phá này, đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, chính sách phát triển khoa học và công nghệ; gắn các mục tiêu, nhiệm vụ khoa học, công nghệ với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Hướng hoạt động khoa học và công nghệ vào phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức. Phát triển, nâng cao khoa học, công nghệ có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực. Tăng đầu tư nhà nước cho các trọng điểm quốc gia đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển khoa học, công nghệ. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong nước và tiếp thu, sử dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới.

- Trong nhiệm kỳ vừa qua, tổng sản phẩm nội địa của Thành phố tăng trưởng bình quân 9,6%/năm, trong đó sự đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) bình quân đạt 33,1%, tăng gần 2 lần so với giai đoạn 2006 - 2010. Một thành tố căn bản đóng góp vào chỉ số TFP chính là sự tác động của khoa học và công nghệ, mà theo một nghiên cứu của Trung tâm Năng suất Việt Nam đánh giá là đóng góp 74% vào sự tăng trưởng của chỉ số TFP. Điều đó cho thấy sự lãnh đạo đúng hướng của Đảng bộ Thành phố trong thời gian vừa qua khi quan tâm đầu tư phát triển lĩnh vực khoa học và công nghệ theo tinh thần của Nghị quyết 20-NQ/TW khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

- Trong giai đoạn 2011 - 2015, Thành phố đầu tư vào lĩnh vực khoa học và công nghệ đạt bình quân trên 2,06% chi ngân sách hàng năm. Nhiều cơ chế, chính sách được ban hành nhằm đổi mới cách làm, tháo gỡ những vướng mắc đối với cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; thúc đẩy việc gắn kết cơ quan nghiên cứu với doanh nghiệp, nghiên cứu, ươm tạo nhiều sản phẩm, công nghệ đi vào sản xuất; thu hút nguồn nhân lực khoa học và công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực, đổi mới mô hình quản trị và kinh doanh, nâng cao năng suất chất lượng, đổi mới công nghệ, tiếp cận thị trường toàn cầu… Tốc độ tăng trưởng của các hoạt động chuyên môn và khoa học và công nghệ đạt bình quân 16,9% trong giai đoạn 2011 - 2015, dẫn đầu trong 9 nhóm ngành dịch vụ của Thành phố, và tăng gấp 3,3 lần so với giai đoạn trước đó. Nhiều mô hình khoa học và công nghệ như Khu Công nghệ cao, Khu Nông nghiệp công nghệ cao, Công viên phần mềm Quang Trung… phát triển có hiệu quả, đang tiếp tục mở rộng, đã tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có giá trị hàm lượng chất xám cao, từng bước góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Thành phố đi vào chiều sâu.

- Theo báo cáo đánh giá về chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI 2015 - 2016 của Tổ chức Diễn đàn kinh tế thế giới (đánh giá dựa trên 124 chỉ số thành phần), Việt Nam đang đứng thứ 56 trong 140 nước xếp hạng (tăng 12 bậc) và đứng thứ 6 trong khu vực. Cũng theo báo cáo đánh giá chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Đại học Comell (Hoa kỳ) và Học viện kinh doanh INSEAD (Pháp) (đánh giá dựa trên 79 chỉ số thành phần), Việt Nam đứng thứ 52 trong 141 nước xếp hạng (tăng 19 bậc), và đứng thứ 3 trong ASEAN (sau Singapore và Malaysia, tăng 4 bậc so với 2010). Kết quả trên cho thấy môi trường vĩ mô, đầu tư, kinh doanh, năng lực nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo của Việt Nam, trong đó có sự đóng góp nhất định của thành phố Hồ Chí Minh, đã có nhiều tiến bộ, góp phần tạo nên những thành quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và Thành phố trong thời gian qua.

- Từ những kết quả nêu trên cho thấy, để thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh với chỉ tiêu phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP là 8 - 8,5%/năm, tỷ trọng đóng góp của năng suất các yếu tố năng suất (TFP) trên 35%/năm, và xây dựng Thành phố sớm trở thành một trong những trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học và công nghệ của khu vực Đông Nam Á như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X đề ra, Thành phố cần tiếp tục quán triệt tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW: “phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp”. Thực tiễn cũng đã chỉ ra động lực của quá trình này chính là doanh nghiệp. Chính vì vậy, trong bối cảnh đất nước đang tìm kiếm động lực mới cho sự đổi mới và phát triển, cùng với việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng đi vào chiều sâu, cũng như trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Thành phố cần xác định việc hoàn thiện thể chế, xây dựng môi trường thuận lợi nhất để thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp trên nền tảng khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong giai đoạn sắp tói để thực hiện chiến lược phát triển bền vững và hội nhập của Thành phố, thực hiện vị trí đầu tàu, đóng góp vào sự phát triển.

3. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa trên địa bàn Thành phố (GRDP); tỷ trọng đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào GRDP; GRDP bình quân đầu người đến cuối năm 2020 đạt 9.800 USD:

3.1. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa trên địa bàn Thành phố (GRDP):

- Tổng sản phẩm trên địa bàn Thành phố GRDP (GRDP - Gross Region Domestic Product) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh giá trị mới tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra của nền kinh tế của một địa phương trong một khoảng thời gian nhất định thường là quý, năm. GRDP đo lường toàn bộ kết quả hoạt động của tất cả các ngành kinh tế thuộc các thành phần trên địa bàn Thành phố. Chỉ tiêu này được tính toán theo giá hiện hành và giá so sánh với ý nghĩa, mục đích khác nhau: Tính theo giá hiện hành để phản ánh quy mô nền kinh tế và nghiên cứu cơ cấu kinh tế, các quan hệ tỷ lệ, cân đối trong nền kinh tế; tính theo giá so sánh mà bản chất là loại trừ yếu tố biến động giá cả để so sánh các năm với nhau, xác định tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau so năm trước cũng như tăng trưởng bình quân của một thời kỳ.

- Giai đoạn 2011 - 2015 và trước đây Thành phố tổng hợp và công bố chỉ tiêu GDP (Gross Domestic Product); theo Quyết định số 715/QĐ-TTg, ngày 22 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (GRDP), theo đó từ năm 2016, Tổng cục Thống kê là cơ quan tính toán và công bố chỉ tiêu GRDP cho tất cả các tỉnh, thành phố trên cơ sở rà soát tính toán lại và công bố GRDP giai đoạn 2011 - 2015 của các tỉnh, thành phố.

- Về nội hàm chỉ tiêu GDP và GRDP là giống nhau, phương pháp tính toán như nhau đều tính theo phương pháp sản xuất, nhưng khác nhau ở tổ chức và phạm vi thu thập thông tin, các công cụ tính toán: (1) áp dụng giá cơ bản thay cho giá sản xuất để tính giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế, vì vậy trong GRDP ngoài 3 khu vực kinh tế (nông sản, lâm sản, thủy sản; công nghiệp xây dựng; dịch vụ) còn có thành phần thuế sản phẩm và trợ cấp sản phẩm; (2) áp dụng triệt để nguyên tắc thường trú của thống kê tài khoản quốc gia, loại bỏ tính sót và tính trùng trên phạm vi giữa các tỉnh, thành phố, đảm bảo khắc phục chênh lệch số liệu giữa các địa phương và Trung ương; (3) hoàn thiện hệ thống chỉ số giá trong chuyển đổi từ giá hiện hành về giá so sánh và áp dụng tỷ lệ chi phí trung gian theo giá cơ bản để tính giá trị tăng thêm các ngành kinh tế.

- Theo kết quả rà soát và tính toán lại của Tổng cục Thống kê cho tất cả các địa phương, GRDP của Thành phố giai đoạn 2011 - 2015 có tốc độ tăng bình quân đạt 7,24%/năm. Căn cứ số liệu các năm 2011, 2012, 2013, sơ bộ năm 2014 và ước tính năm 2015; trên cơ sở đó, Thành phố xây dựng mục tiêu phấn đấu giai đoạn 2016 - 2020: GRDP đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm từ 8% - 8,5%.

3.2. GRDP bình quân đầu người đến cuối năm 2020 đạt 9.800 USD:

- Đây là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp được xác định bằng GRDP của năm theo giá hiện hành chia cho dân số trung bình của năm tương ứng và quy đổi USD theo tỷ giá bình quân trong năm; là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia hoặc giữa các địa phương trong một thời kỳ nhất định thường là 1 năm.

- Cần phân biệt GRDP bình quân đầu người và thu nhập bình quân đầu người: Trong GRDP bình quân đầu người bao gồm một phần thu nhập người sản xuất, ngoài ra còn có thuế, khấu hao tài sản cố định và thặng dư sản xuất. Thu nhập bình quân đầu người gồm thu nhập từ sản xuất (tiền công, tiền lương, thu từ hộ sản xuất kinh doanh cá thể) và thu nhập khác không từ sản xuất (như biếu, cho, mừng, giúp, lãi tiết kiệm…). Hai chỉ tiêu này chỉ chung nhau một phần là thu nhập từ sản xuất. GRDP bình quân đầu người phản ánh kết quả hoạt động kinh tế bình quân 1 người dân, còn thu nhập bình quân đầu người phản ánh số thu nhập 1 người dân có được.

- Kết quả ước tính năm 2015, GDP bình quân đầu người đạt 5.538 USD, căn cứ mức tăng bình quân mỗi năm của giai đoạn 2011 - 2015, GDP bình quân đầu người năm 2015 tăng 1,9 lần so năm 2010, Thành phố xây dựng mục tiêu đến năm 2020, GRDP bình quân đầu người phấn đấu đạt 9.800 USD.

3.3. Tỷ trọng đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào GRDP:

- Ngoài hai nguồn lực chính đóng góp vào tăng trưởng kinh tế là vốn và lao động còn có một yếu tố mang tính tổng hợp phản ánh một cách khái quát hiệu quả tổng hợp của việc phối hợp sử dụng các nhân tố đầu vào của quá trình sản xuất như vốn, lao động, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến quản lý, đó chính là chỉ tiêu năng suất các nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP).

- Đây là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng, có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế. Bởi nguồn lực lao động hay vốn là những nguồn lực có giới hạn, nhưng tiến bộ khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý… kết quả tiến bộ tri thức là vô hạn. Tiến bộ khoa học kỹ thuật và cải tiến quản lý làm cho việc sử dụng các nguồn lực vật chất được hiệu quả nhất.

- Theo tính toán chính thức các năm 2011 - 2013, sơ bộ năm 2014 và ước tính năm 2015, tỷ phần đóng góp của TFP vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 33,1%; trên cơ sở đó Thành phố xây dựng mục tiêu cho giai đoạn 2016 - 2020 tỷ lệ đóng góp này đạt 35% trở lên.

4. Với mục tiêu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh thành Thành phố có chất lượng sống tốt, Đảng bộ Thành phố đặt mục tiêu Thành phố trong nhóm 5 (năm) địa phương dẫn đầu cả nước về về xếp hạng chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số cải cách hành chính (PAR-index)

4.1. Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI):

- Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) là sản phẩm của hoạt động hợp tác nghiên cứu giữa Trung tâm Nghiên cứu Phát triển - Hỗ trợ cộng đồng (CECODES) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam từ năm 2009 cho tới nay.

- Chỉ số PAPI đo lường hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh dựa trên trải nghiệm và đánh giá của người dân khi tương tác với các cấp chính quyền địa phương; là công cụ theo dõi, giám sát năng lực điều hành, quản lý nhà nước, thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công của chính quyền địa phương; giúp các cấp chính quyền địa phương có những căn cứ điều chỉnh và cải thiện hiệu quả công tác, phục vụ người dân tốt hơn. Chỉ số PAPI bổ sung thông tin, dữ liệu cho những công cụ "tự đánh giá" hiện có của các cấp, ngành, địa phương bằng việc áp dụng phương pháp tổng hợp ý kiến đánh giá dựa trên trải nghiệm của người dân, lấy người dân là trung tâm.

- Nội dung đánh giá của PAPI dựa trên ba quá trình có tác động lẫn nhau, đó là: Xây dựng chính sách, thực thi chính sách và giám sát việc cung ứng các dịch vụ công; với 6 tiêu chí: Tham gia của người dân ở cấp cơ sở; công khai, minh bạch; trách nhiệm giải trình với người dân; kiểm soát tham nhũng trong khu vực công; thủ tục hành chính công; cung ứng dịch vụ công.

- Báo cáo chỉ số PAPI hàng năm không trình bày kết quả xếp hạng của toàn bộ các tỉnh, thành phố. Thay vào đó, báo cáo trình bày các kết quả phân tích cụ thể ở cấp tỉnh trong năm và đánh giá xu thế biến đổi của các chỉ số nội dung, chỉ số nội dung thành phần và chỉ tiêu thành phần qua các năm gần nhất.

4.2. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI):

- Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (Provincial Competitiveness Index) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nghiên cứu và xác định để đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành phố của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp, dân doanh.

- Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI bao gồm 10 chỉ số:

(1) Chi phí gia nhập thị trường thấp;

(2) Doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận đất đai và có mặt bằng kinh doanh ổn định;

(3) Môi trường kinh doanh công khai minh bạch, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận công bằng các thông tin cần cho kinh doanh và các văn bản pháp luật cần thiết;

(4) Thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính và thanh tra kiểm tra hạn chế nhất (chi phí thời gian).

(5) Chi phí không chính thức ở mức tối thiểu;

(6) Cạnh tranh bình đẳng;

(7) Lãnh đạo tỉnh năng động và tiên phong;

(8) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, do khu vực nhà nước và tư nhân cung cấp;

(9) Có chính sách đào tạo lao động tốt;

(10) Hệ thống pháp luật và tư pháp để giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả.

- Thống kê thứ hạng chỉ số PCI của Thành phố qua các năm như sau: Năm 2008, hạng 13; năm 2009, hạng 16; năm 2010, hạng 23; năm 2011, hạng 20; năm 2012, hạng 13; năm 2013, hạng 10 và năm 2014, hạng 4. Trên cơ sở đó Thành phố xây dựng mục tiêu cho giai đoạn 2016 - 2020, phấn đấu trong nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước.

4.3. Chỉ số cải cách hành chính (PAR-index):

- Chỉ số cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” (gọi tắt là Chỉ số cải cách hành chính, tên tiếng Anh viết tắt là PAR-INDEX) là hệ thống chỉ số do Bộ Nội vụ xây dựng.

- Xác định Chỉ số cải cách hành chính để theo dõi, đánh giá một cách thực chất, khách quan, công bằng kết quả triển khai cải cách hành chính hàng năm của các bộ, cơ quan ngang bộ (gọi tắt là cấp bộ), Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là cấp tỉnh) trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ.

- Chỉ số cải cách hành chính cấp tỉnh được xác định trên 8 lĩnh vực, 34 tiêu chí và 104 tiêu chí thành phần, cụ thể là:

+ Công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính: 6 tiêu chí và 19 tiêu chí thành phần;

+ Xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật: 3 tiêu chí và 12 tiêu chí thành phần;

+ Cải cách thủ tục hành chính: 2 tiêu chí và 8 tiêu chí thành phần;

+ Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước: 5 tiêu chí và 8 tiêu chí thành phần;

+ Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: 6 tiêu chí và 20 tiêu chí thành phần;

+ Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập: 5 tiêu chí và 13 thành phần;

+ Hiện đại hóa hành chính: 3 tiêu chí và 13 tiêu chí thành phần;

+ Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông: 4 tiêu chí và 11 tiêu chí thành phần.

- Kết quả Chỉ số cải cách hành chính cấp tỉnh của thành phố Hồ Chí Minh qua các năm như sau: Năm 2012, hạng 03; năm 2013, hạng 09; năm 2014, hạng 06. Trên cơ sở đó Thành phố xây dựng mục tiêu cho giai đoạn 2016 - 2020, phấn đấu trong nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước.

5. Căn cứ vào kết quả thực hiện 6 chương trình đột phá nhiệm kỳ IX, trên cơ sở xác định mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu cụ thể nhiệm kỳ X, có bổ sung nhiệm vụ, giải pháp trong từng chương trình để đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân; Đảng bộ Thành phố đề ra 7 (bảy) chương trình đột phá để thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ Thành phố là:

(1) Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;

(2) Chương trình cải cách hành chính;

(3) Chương trình nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh của kinh tế thành phố;

(4) Chương trình giảm ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông;

(5) Chương trình giảm ngập nước, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng;

(6) Chương trình giảm ô nhiễm môi trường;

(7) Chương trình chỉnh trang và phát triển đô thị.

Tăng thêm 1 (một) Chương trình chỉnh trang và phát triển đô thị so với 6 (sáu) chương trình đột phá của nhiệm kỳ trước.

- Đảng bộ, chính quyền Thành phố đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo huy động mọi nguồn lực đầu tư, xây dựng, phát triển các khu đô thị mới đồng bộ, văn minh, hiện đại; xây dựng mới, thay thế chung cư cũ hư hỏng, xuống cấp; chỉnh trang nâng cấp các khu dân cư hiện hữu, trong đó có việc di dời nhà ở và tổ chức lại cuộc sống của người dân đang sống trên và ven kênh, rạch; thực hiện nhất quán và xuyên suốt trong thời gian qua, kế thừa kết quả và kinh nghiệm từ chương trình di dời các hộ dân sống trên và ven kênh, rạch qua các giai đoạn, từ những giải pháp tổ chức thực hiện đồng bộ và quyết liệt của chính quyền, sự kiên trì tuyên truyền, vận động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, đặc biệt là sự đồng thuận của Nhân dân Thành phố nhằm hướng dần mục tiêu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình. Hơn 20 năm qua, Thành phố đã di dời và tổ chức lại cuộc sống cho khoảng 36.000 hộ gia đình sinh sống trên và ven kênh, rạch, tập trung vào 5 tuyến kênh, rạch chính là Tàu Hủ - Bến Nghé, kênh Đôi - Tẻ, Tân Hóa - Lò Gốm, Nhiêu Lộc - Thị Nghè và Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên; bộ mặt đô thị đã được chỉnh trang theo hướng văn minh, hiện đại, hệ thống hạ tầng kỹ thuật được đầu tư hoàn chỉnh, hạ tầng xã hội được tập trung đầu tư và có bước phát triển, kết nối thuận lợi; công tác quản lý, bảo vệ và xử lý ô nhiễm môi trường có tiến bộ, tạo không gian và môi trường sống tốt hơn cho người dân Thành phố.

- Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình tự nhiên Thành phố có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt, tình trạng nhà ở lấn chiếm, hình thành các khu dân cư tự phát, nhà lụp xụp một phần do lịch sử để lại từ trước năm 1975, một phần do bồi lắng tự nhiên khiến cho dòng kênh, rạch vốn nhỏ nay càng hẹp hơn, nột phần do công tác quản lý chưa được quan tâm trong thời gian dài trước đây. Vẫn còn xảy ra tình trạng phát triển không đồng bộ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tại các khu dân cư hiện hữu và các chung cư hư hỏng, xuống cấp; kết quả giải quyết những vấn đề bức xúc của Nhân dân về giảm ùn tắc giao thông, giảm ngập nước, giảm ô nhiễm môi trường còn hạn chế, có mặt ngày càng gay gắt hơn, chưa giải quyết được những tồn tại của đô thị cũ. Chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - văn hóa, cải thiện dân sinh và bảo vệ môi trường.

- Hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan chủ yếu là do: Công tác quản lý nhà nước về đầu tư còn nhiều bất cập; hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, nhiều quy định chưa phù hợp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của đô thị loại đặc biệt; công tác thống kê, nghiên cứu, dự báo, quy hoạch mang tính chiến lược chưa ngang tầm. Chất lượng quy hoạch còn thấp, thiếu tính đồng bộ, bao quát, kết nối và tầm nhìn dài hạn. Quản lý thực hiện quy hoạch còn yếu; chưa có cơ chế, chính sách thích hợp để huy động tiềm năng và nguồn lực, nhất là nguồn lực về đất đai cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

Từ đó, Đảng bộ Thành phố xây dựng Chương trình đột phá Chỉnh trang và phát triển đô thị như sau:

Mục tiêu của Chương trình:

Tập trung di dời và tổ chức lại cuộc sống của người dân đang sống trên và ven kênh, rạch; xây dựng mới, thay thế chung cư hư hỏng, xuống cấp; tích hợp đồng bộ trong quy hoạch và quản lý chỉnh trang nâng cấp các khu dân cư hiện hữu, xây dựng, phát triển các khu đô thị mới, phát triển kết cấu hạ tầng, dành quỹ đất cho phát triển giao thông, các công trình công cộng… gắn với chiến lược, chương trình, kế hoạch khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên (quỹ nhà, đất…) và bảo vệ môi trường. Qua đó, tổ chức lại, cải thiện đều kiện sống dân cư, tăng mức độ tiếp cận của người dân với các dịch vụ công; tăng diện tích mảng xanh và cây xanh, tạo môi trường sống tốt hơn, hợp lý, hài hòa với không gian kiến trúc, cảnh quan xung quanh; phù hợp với sự phát triển chung của đô thị đặc biệt; góp phần xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình.

Chỉ tiêu cụ thể của Chương trình:

- Phấn đấu đến năm 2025, hoàn thành di dời toàn bộ 19.524 căn nhà và tổ chức lại cuộc sống của người dân đang sống trên và ven kênh, rạch. Giai đoạn 2015 - 2020, tập trung giải tỏa, di dời 9.805 căn.

- Phấn đấu đến năm 2020, cơ bản giải quyết việc xây dựng mới thay thế các chung cư bị hư hỏng nặng đã được kiểm định theo quy định, kết hợp chỉnh trang đô thị nhằm tạo ra các khu nhà ở mới có chất lượng tốt hơn, đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; phấn đấu thực hiện tháo dỡ 120.000 m2 sàn chung cư hư hỏng nặng, xây dựng mới 240.000 m2 sàn các chung cư mới.

Đây là chương trình hết sức quan trọng nhằm nâng cao một cách toàn diện điều kiện sống của người dân trong Thành phố, phát triển Thành phố theo mô hình hiện đại, bền vững, là Thành phố có chất lượng sống tốt.

III. Đại hội thể hiện cao tinh thần trách nhiệm, phát huy dân chủ và tập trung trí tuệ, căn cứ tiêu chuẩn đã sáng suốt lựa chọn bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa X và Đoàn Đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng:

- Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh khóa X gồm 69 đồng chí, tiêu biểu cho trí tuệ, phẩm chất và năng lực, có cơ cấu hợp lý, bảo đảm tính liên tục và kế thừa trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo.

- Thực hiện các quy định của Đảng về công tác nhân sự Đại hội, trong thời gian qua Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh khóa IX mà trực tiếp là Ban Thường vụ Thành ủy với sự chỉ đạo chặt chẽ của Đồng chí Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải đã có ý thức và trách nhiệm rất cao trong công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa X nhất là Ban Thường vụ Thành ủy và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Thành ủy ở tất cả các khâu, từ đánh giá cán bộ, quy hoạch tạo nguồn, đào tạo bồi dưỡng, bố trí cán bộ tiếp cận với các chức danh được quy hoạch. Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố đã báo cáo Bộ Chính trị về phương án nhân sự và được Bộ Chính trị đánh giá cao về công tác chuẩn bị phương án nhân sự. Theo quy định, việc giới thiệu nhân sự bầu chức danh Bí thư Thành ủy thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị. Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm kinh tế lớn của Vùng, cả nước, có vị trí chính trị rất quan trọng của cả nước, việc chuẩn bị nhân sự Bí thư Thành ủy gắn với công tác chuẩn bị nhân sự Bộ Chính trị khóa XII của Đảng. Việc để sau Đại hội XII phân công đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị làm Bí thư Thành ủy là đúng quy định, quy trình công tác nhân sự của Đảng. Trong thời gian này Đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị được Bộ Chính trị phân công chỉ đạo Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy điều hành hoạt động của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.

- Tại phiên họp thứ nhất, Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố khóa X đã bầu Ban Thường vụ Thành ủy gồm 15 đồng chí. Các đồng chí Phó Bí thư là: Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy; Đồng chí Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy; Đồng chí Nguyễn Thị Quyết Tâm, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân Thành phố; Đồng chí Tất Thành Cang, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy.

- Hội nghị đã bầu Ủy ban Kiểm tra Thành ủy gồm 13 đồng chí; Đồng chí Trần Vĩnh Tuyến, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy khóa X.

- Đại hội đã bầu Đoàn Đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh gồm 35 đại biểu chính thức và 3 (ba) đại biểu dự khuyết, cùng với 7 (bảy) đại biểu đương nhiên, tiêu biểu cho trí tuệ, phẩm chất và năng lực, đại diện xứng đáng cho ý chí, trí tuệ của Đảng bộ và Nhân dân Thành phố dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

***

Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X nhận thức sâu sắc trách nhiệm đối với Nhân dân Thành phố và Nhân dân cả nước, với truyền thống yêu nước, cách mạng, đoàn kết, năng động, sáng tạo, Đảng bộ Thành phố nghiêm túc khắc phục, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ Thành phố, huy động mọi nguồn lực, quyết tâm hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ X đề ra, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, xây dựng Thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình, xứng đáng là Thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh - Thành phố Anh hùng./.

Nguồn: Ban Tuyên giáo Thành ủy


Số lượt người xem: 938    

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày

  • Thành phố Hồ Chí Minh
  • KT-XH 9 thang 2014
  • Tuyên truyền tiết kiệm điện P.2
  • Tuyên truyền tiết kiệm điện P.1
  • Gương học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
  • Quận 2: Chuyển biến trong công tác giải quyết đơn thu khiếu nại của người dân
  • Đảng bộ Quận 2 với chương trình "Vì dân phục vụ"
  • Bước chuyển mới trong việc xây dựng Chính quyền điện tử
  • Chuyện về vùng đất mới quận 2
  • Khai mạc hội xuân chợ hoa tết Quý Tỵ 2013
  • Hội xuân Quý Tỵ 2013-Quận đoàn
  • Hội thi nấu bánh tét xuân Quý Tỵ 2013
  • Bắn pháo hoa dịp tết Quý Tỵ 2013
  • KỶ NIỆM 15 NĂM THÀNH LẬP QUẬN 2 - P.2
  • KỶ NIỆM 15 NĂM THÀNH LẬP QUẬN 2 - P.1
Tìm kiếm